
Thời Kỳ Lư - Trần 1010 -1400
|
[ Trang Đầu ]-[ Thời Sự VN ]-[ Kinh Tế VN ]-[ B́nh Luận ]-[ Văn Học & Lịch Sử ]-[ Vườn Thơ ]-[ T́m Bài Cũ ]-[ E-mail ]-[ Đi Ra ] |
Nhà Lư (1010-1225)
Năm 1009, sau khi Lê Long Đĩnh chết, Triều đ́nh tôn Lư Công Uẩn, một người có uy tín và thế lực trong triều lên làm vua.
Lư Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Tiên Sơn, Hà Bắc) không có cha, mẹ họ Phạm. Thời niên thiếu của Lư Công Uẩn trải qua trong môi trường Phật giáo. Năm lên ba, Lư Công Uẩn làm con nuôi cho nhà sư Lư Khánh Vân (v́ thế ông mang họ Lư). Sau đó ông lại là đệ tử của Sư Vạn Hạnh và ở hẳn trong chùa Lục Tổ (c̣n gọi là chùa Cổ Pháp)
Lớn lên, Lư Công Uẩn được giữ một chức nhỏ trong đội cấm quân của vua Lê Đại Hành. Ông nổi tiếng là người liêm khiết và được giới Phật giáo ủng hộ. Năm 1005, sau khi Lê Đại Hành mất, các hoàng tử tranh ngôi, Thái tử Long Việt lên ngôi chỉ mới ba ngày th́ bị Lê Long Đĩnh giết. Lư Công Uẩn không ngại ngần, ôm xác người vua mới mà khóc. Lê Long Đĩnh, Lư Công Uẩn làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, thống lĩnh toàn thể quân túc vệ.
Lê Long Đĩnh chết vào năm 1009 sau một thời gian trị v́ tàn bạo. Lúc bấy giờ giới Phật giáo với các vị cao tăng danh tiếng như sư Vạn Hạnh đang có uy tín trong xă hội và trong triều đ́nh. Họ cùng quan đại thần là Đào Cam Mộc đưa Lư Công Uẩn lên làm vua.
Lư Công Uẩn lên ngôi, lấy hiệu là Lư Thái Tổ, lập nên nhà Lư. Nhà Lư truyền được tám đời nên sử sách thường gọi là Lư Bát Đế (không kể đời Lư Chiêu Hoàng)
Lư Thái Tổ là một vị vua hiền từ, rất lo cho dân. Vua ở ngôi được 19 năm, mất vào năm 1028. Việc tang lễ chưa kịp hoàn tất th́ các hoàng tử tranh nhau ngôi vua dù Lư Phật Mă đă được lập làm Thái tử từ lâu. Nhờ sự giúp sức đầy dũng mănh của Lê Phụng Hiểu mà Lư Phật Mă được lên ngôi, lấy hiệu là Lư Thái Tông. Các hoàng tử đă từng tranh ngôi với Lư Phật Mă xin về chịu tội, với tinh thần từ bi hỉ xả của đạo Phật, nhà vua tha tội và phục chức cho họ lại như cũ.
Lư Thái Tông cũng là một vị vua nhân từ. Nhà vua thường tha thuế cho dân chúng mỗi khi trong nước gặp nạn mất mùa hoặc vừa có chiến tranh. Ngay đối với kẻ làm nội loạn, nhà vua cũng dùng chữ nhân để đối xử. Như trường hợp Nùng Trí Cao, sau khi nổi lên cát cứ, bị bắt, vua Thái Tông không những tha tội làm loạn mà c̣n phong tước cho nữa. Vua Lư Thái Tông làm vua được 27 năm th́ mất.
Lư Thánh Tông lên ngôi vào năm 1054 và cũng trong năm ấy nhà vua đặt quốc hiệu là Đại Việt. Lư Thánh Tông nổi tiếng nhân từ, yêu dân như yêu con. Nhà vua c̣n thương đến cả những người bị tù tội, cấp cho họ chăn chiếu để đắp, cho cơm ăn ngày hai bữa. V́ thế, dưới triều này, trong nước ít có nội loạn, cuộc sống tương đối thanh b́nh. Nguyên phi của vua là bà ỷ Lan, nổi tiếng giỏi việc trị nước thay vua khi vua bận đi đánh Champa. Bấy giờ, cương vực của Đại Việt có thêm phần đất Quảng B́nh, Quảng Trị ngày nay.
Vua Thánh Tông mất vào năm 1072, Thái Tử Càn Đức, là con của vua Lư Thánh Tông cùng bà ỷ Lan, mới 7 tuổi, lên làm vua, lấy hiệu là Lư Nhân Tông. Quan Thái sư là Lư Đạo Thành làm phụ chính. Đặc biệt dưới triều Lư Nhân Tông có cuộc phá Tống của Lư Thường Kiệt.
Lư Nhân Tông mất năm 1127, làm vua được 56 năm. V́ vua Nhân Tông không con nên đă lập con của người em lên làm thái tử. Đó là Lư Thần Tông, lúc ấy mới có 13 tuổi. Tuy vua nhỏ tuổi nhưng các quan đại thần hết ḷng giúp đỡ, nên trong nước cũng được yên ổn, ít có loạn lạc. Lư Thần Tông chỉ làm vua được mười năm th́ mất. Con là Lư Anh Tông mới ba tuổi đă làm vua, được Tô Hiến Thành phụ tá đắc lực nên việc triều chính vẫn ổn định.
Lư Cao Tông lên nối ngôi cha cũng chỉ có ba tuổi. Nhà Lư bắt đầu suy vong từ đây. Vào đầu triều Lư Cao Tông, Tô Hiến Thành c̣n làm phụ tá vài năm th́ mất, triều thần vẫn c̣n giữ được nền nếp của các triều trước nên cũng tạm ổn. Nhưng khi lớn lên, Lư Cao Tông ham chơi bời, săn bắn, bê trễ việc nước lại thêm tiêu hoang phung phí, cho xây cung điện bắt dân chúng phải phục dịch. Quan lại th́ nhũng nhiễu nên trong nước loạn lạc nổi lên như ong.
Những cuộc nổi loạn lớn nhất và có ảnh hưởng đến ngai vàng của họ Lư là loạn Phạm Du và loạn Quách Bốc.
Năm 1208, Phạm Du nổi lên làm loạn ở Nghệ An, vua sai quan phụng ngự là Phạm Bỉnh Gi đi đánh dẹp. Bỉnh Gi đánh đuổi được Phạm Du, tịch biên của cải và đốt phá cửa của Phạm Du. Phạm Du cho người về kinh đô, đem vàng bạc đút lót cho các quan lại để vu cho Bỉnh Gi tội giết người vô tội. Lư Cao Tông nghe lời, cho bắt Bỉnh Gi. Thuộc tướng của Bỉnh Gi là Quách Bốc nổi lên, tiến đánh đến tận kinh thành. Lư Cao Tông cho giết Bỉnh Gi rồi cùng gia quyến chạy trốn. Thái Tử Sam chạy đến nương náu tại nhà Trần Lư, trưởng họ một gia đ́nh đánh cá giàu có và có thế lực ở làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định. Tại đây, thái tử Sam thấy con gái của Trần Lư là Trần Thị Dung xinh đẹp nên cưới làm vợ. Gia đ́nh họ Trần đem của cải ra mộ quân dẹp loạn và hộ tống được nhà vua về Thăng Long.
Về kinh được một năm th́ vua mất, thái tử Sam lên nối ngôi, đó là Lư Huệ Tông, Trần Thị Dung làm hoàng hậu.
Từ đấy họ Trần uy thế nhất triều, hai người anh của hoàng hậu là Trần Thừa và Trần Tự Khánh cùng người em họ là Trần Thủ Độ giữ các chức vụ chủ chốt trong triều. Trần Thừa làm Nội thị phán thủ, Trần Tự Khánh làm Phụ chính, Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Quyền hành ở trong triều nằm cả trong tay của Trần Tự Khánh, khi Trần Tự Khánh chết rồi th́ Trần Thủ Độ nắm quyền.
Lư Huệ Tông không có con trai, chỉ có hai người con gái cùng Trần Thị Dung. Công chúa Thuận Thiên, gả cho Trần Liễu, con trưởng của Trần Thừa. Người con gái thứ hai là Chiêu Thánh, rất được Lư Huệ Tông yêu mến và lập làm Thái tử. Năm 1224, Lư Huệ Tông nhường ngôi cho Chiêu Thánh và vào ở trong chùa Chân Giáo.
Dưới sự sắp đặt của Trần Thủ độ, Lư Chiêu Hoàng lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh làm chồng và sau đó nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Lư chấm dứt, triều Trần thay thế. Một cuộc đảo chánh không đổ máu đă thành công.
Sau khi lên làm vua, Lư Thái Tổ thấy đất Hoa Lư chật hẹp nên cho dời đô về Đại La (1010) và đổi tên Đại La thành Thăng Long (Hà Nội). Thăng Long bấy giờ nằm vào vị trí trung tâm của đất nước, là nơi hội tụ của đường bộ, đường sông. Theo quan niệm của người xưa, Thăng Long có "được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; vị trí ở giữa bốn phương Đông Tây Nam Bắc; tiện h́nh thế núi rừng sau trước... Xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời" (Chiếu dời đô).
Thời nhà Lư, các hoàng tử đều được nhà vua phong tước vương và đều có bổn phận đi đánh dẹp các cuộc nội loạn, nên ai cũng giỏi việc quân sự. Các công chúa th́ được phân công trông coi việc trưng thu các thứ thuế. Số hậu phi và cung nữ được định rơ ràng dưới triều vua Lư Thánh Tông: hoàng hậu và phi 13 người, ngự nữ 18 người, nhạc kỹ 100 người.
Cơ cấu hành chính trong nước được vua Lư Thái Tổ cải tổ. Toàn quốc được chia ra làm 24 lộ, phủ do quan lại cai trị. Dưới lộ, phủ là huyện và hương. Làng xă tự bầu người quản lư và có bổn phận đóng thuế cho Nhà nước.
Bộ luật đầu tiên của nước ta được viết ra dưới triều Lư Thái Tông (1042). Đó là bộ H́nh thư, nhưng hiện nay văn bản của bộ luật này đă thất truyền. Các sách sử chỉ ghi lại rằng nhà vua định các bậc h́nh phạt, các cách tra hỏi và cho phép những người già hoặc vị thành niên được lấy tiền mà chuộc tội khi phạm phải tội nặng. Có điều lệ cấm không cho mua bán hoàng nam (tức là đàn ông từ 18 tuổi trở lên) làm nô t́ và cấm mổ trâu ḅ ăn thịt
Thuế được định ra sáu loại:
Quân đội nhà Lư được tổ chức có quy mô. Dưới đời Lư Thánh Tông, tổ chức quân đội được chia làm bốn lộ là tả, hữu, tiền, hậu. Tất cả gồm có 100 đội, mỗi đội có lính kỵ và lính bắn đá. Binh pháp nhà Lư rất nổi tiếng, nhà Tống bên Trung Hoa đă từng bắt chước, áp dụng binh pháp này cho quân đội của ḿnh. Đến thời Lư Thần Tông có một ít thay đổi trong cơ chế quân đội. Quân lính được sáu tháng một lần đổi phiên nhau về làm ruộng. Nhờ thế, nhân lực cho nền nông nghiệp vẫn được bảo đảm.
1. Nông nghiệp
Đại bộ phận ruộng đất trong nước là ruộng đất của công xă. Công xă có được uy quyền tự trị rộng răi. Ruộng đất của công xă nào là do công xă ấy quản lư. Tuy thế, nhà vua vẫn có quyền sở hữu tối cao tên ruộng đất, nên nông dân cày ruộng công xă vẫn phải nộp tô thuế, lao dịch và đi lính cho nhà vua. Mức thuế được định là 100 thăng mỗi mẫu.
Ngoài ra c̣n có ruộng cấp cho quư tộc quan lại có công và được gọi là thác đao điền (ruộng ném đao, từ sự tích Lê Phụng Hiểu). Từ đó h́nh thành thái ấp của một số quư tộc và quan lại cao cấp. Nông dân trong thái ấp không có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước mà chỉ đóng cho chủ thái ấp. Chủ thái ấp đóng thuế cho nhà nước tương đương với mức thuế của ruộng đất công xă.
Nhà nước có ruộng riêng của nhà nước gọi là ruộng quốc khố, người cày ruộng là tù binh hay phạm nhân. Tô thuế ruộng quốc khố nặng hơn so với các loại ruộng trên.
Nhà Lư coi trọng nghề nông và đề ra nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp. Sức lao động và sức kéo được bảo vệ. Quân lính thay phiên nhau làm ruộng, những người đi phiêu bạt được trở về quê hương nhận ruộng cày cấy. Trâu ḅ được bảo vệ. Không những việc trộm trâu bị trừng phạt nặng mà ngay cả việc giết trâu sở hữu của ḿnh cũng bị ngăn cấm. Nhà nước quy định cứ ba nhà hợp thành một "bảo" để kiểm soát lẫn nhau và cùng liên đới chịu trách nhiệm về tội giết trâu ḅ.
Vấn đề thủy lợi được tiến hành với qui mô lớn. Đê Cơ Xá được đắp vào triều Lư Nhân Tông đă giúp chống được lụt của sông Hồng. Nông nghiệp dưới thời nhà Lư nhờ vậy đă được phát triển và nuôi được dân chúng.
2. Thủ công nghiệp
Nghề dệt đă phát triển đáng kể, sản xuất đủ loại từ gấm đoạn, lụa cho đến vải sợi. Năm 1040, Lư Thái Tông quyết định dùng gấm vóc trong nước để may lễ phục cho vua quan mà không phải mua gấm vóc của nước ngoài nữa.
Nghề gốm tiến một bước khá dài và đạt được tŕnh độ cao về sản xuất cũng như về nghệ thuật. Ngói gạch được sản xuất đầy đủ để phục vụ cho việc xây dựng nhà cửa cùng lâu đài, cung điện. Có loại ngói tráng men, ngói bằng sứ trắng, gạch cỡ lớn có trang trí hoa văn và có khắc niên hiệu nhà Lư. Các đồ dùng bằng sành sứ được chế tạo tinh xảo với các lớp men nâu, men ngọc, men trắng ngà cùng những hoa văn trang nhă hoặc khắc ch́m, nổi rất công phu.
Nghề khắc bản in đă xuất hiện, chủ yếu dùng để in các kinh Phật.
Giao thông và buôn bán cũng được phát triển. Các con đường giao thông thủy bộ được mở mang. Từ Thăng Long có những con đường thủy đi đến tận biên giới phía Bắc và phía Nam. Dọc các đường bộ quan trọng có nhà trạm và các ụ đất cắm biển gỗ ở trên để chỉ phương hướng.
Việc buôn bán với nước ngoài rất phát triển. Cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) là nơi tàu thuyền nước ngoài tấp nập đến trao đổi.
IV. Phát triển văn hóa - xă hội
Nho giáo: Nhà Lư bắt đầu chăm lo việc mở mang học tập và thi cử để tuyển lựa nhân tài ra làm quan. Năm 1070, Lư Thánh Tông cho dựng Văn miếu (thờ Khổng Tử, Chu Tử và 72 vị tiền hiền) và mở Quốc Tử Giám. Nền đại học Việt Nam bắt đầu từ đấy. Năm 1075 triều đ́nh mở khoa thi đầu tiên để chọn nhân tài. Đây là khoa thi tam trường gồm có đủ Phật, Lăo, Nho. Vị Trạng nguyên đầu tiên của nước ta là Lê Văn Thịnh đậu ở khoa thi này.
Tầng lớp nho sĩ thấm nhuần ư thức Nho giáo bắt đầu xuất hiện. Trước đây tầng lớp có học trong xă hội hầu hết là các nhà sư. Từ đời Lư, Nho giáo bắt đầu có địa vị trong xă hội. Tuy thế, chế độ giáo dục và thi cử theo tinh thần Nho giáo cũng chỉ mới bắt đầu. Số nho sĩ được tạo ra hăy c̣n quá ít, Phật giáo vẫn chiếm ưu thế và các nhà sư vẫn giữ vai tṛ quan trọng trong xă hội.
Phật giáo: Phật giáo được truyền bá rộng răi trong quần chúng và có dấu ấn lên mọi sinh hoạt văn hóa. Nhà vua và tầng lớp quư tộc rất tôn sùng đạo Phật. Tất cả tám đời vua nhà Lư, vua nào cũng sùng tín đạo phật. Lư Thái Tổ bản thân là con nuôi của sư Lư Khánh Vân và từng được nuôi dạy trong chùa từ nhỏ. Đó là vị vua Phật tử đầu tiên của Việt Nam. C̣n vua Lư Thái Tông là Tổ thứ bảy của phái thiền Vô Ngôn Thông, Lư Thánh Tông là Tổ thứ hai của phái thiền Thảo Đường.
Phái thiền Thảo Đường là phái thiền thứ ba được thành lập tại Việt Nam vào năm 1068. Việc hiện diện của vị thiền sư này tại đất Đại Cổ Việt là một sự t́nh cờ. Thảo Đường vốn người Trung Hoa đang hành đạo tại Champa, th́ vào năm 1069 bị quân Đại Việt bắt trong chuyến vua Lư Thánh Tông đi chinh phạt. Ông bị đưa về Thăng Long. Tại đây, ông giúp việc cho một vị tăng lục và bộc lộ ra kiến thức thiền học của ḿnh. Vua biết đến, vời ông làm quốc sư và cho ông trụ tŕ tại chùa Khai Quốc ở Thăng Long. Phái thiền này truyền sáu thế hệ. Kể cả thiền sư Thảo Điền, có tất cả 19 thiền sư. Lư Thánh Tông là vị Tổ thứ hai, Lư Anh Tông thuộc thế hệ thứ tư, Lư Cao Tông thuộc thế hệ thứ sáu.
Hệ thống tăng già (sangha) được duy tŕ, quốc sư có vai tṛ như người cố vấn tối cao. Nhà vua cho các nhà sư được bận lễ phục riêng của họ. Quư tộc, quan lại thi nhau cúng tiền bạc cho nhà chùa. Các nhà sư được cấp phát bằng, được miễn thuế và lao dịch cùng đi lính. Chùa chiền mọc lên khắp nơi, không năm nào mà không có xây chùa mới, triều đ́nh lại miễn thuế cho dân chúng. Năm 1018, Lư Thái Tổ cho người đi thỉnh kinh Tam Tạng (Tripitaka) về sao lại và cất vào kho Đại Hưng.
Vua Lư Thái Tông cho xây ngôi chùa Một Cột. Đây là một ngôi chùa nổi tiếng không phải v́ tính chất kỹ thuật mà v́ tính nghệ thuật của nó.
Kiến trúc phát triển mạnh dưới thời nhà Lư và chịu ảnh hưởng của Phật giáo rất sâu đậm. Cung điện, lâu đài, thành quách và chùa tháp được xây dựng với qui mô lớn. Thành Thăng Long là một công tŕnh xây dựng lớn trong các triều đại phong kiến. Thành gồm hai ṿng dài khoảng 25 km. Trong hoàng thành có những cung điện cao đến bốn tầng. Việc xây dựng các chùa tháp rất được coi trọng. Năm 1031 Lư Thái Tông cho xây 950 ngôi chùa. Năm 1056, Lư Thánh Tông lập chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, phải dùng 11 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa, năm sau lại dựng Tư Thiên Bảo tháp trước chùa Báo Thiên, cao vài chục trượng (khoảng 50-60m) và có 30 tầng. Ngoài ra c̣n có nhiều chùa tháp khác cũng đồ sộ và huy hoàng không kém.
Điêu khắc đời Lư độc đáo, chủ yếu trên gốm và trên đá. Đề tài thường là thiên nhiên như mây, nước, hoa sen, hoa cúc và đặc biệt là h́nh tượng con rồng với nhiều nếp cong mềm mại tượng trưng cho nguồn nước, niềm mơ ước của cư dân trồng lúa.
H́nh tượng con rồng của triều đại này không lẫn được với các triều đại khác. Những h́nh điêu khắc ở chùa Phật Tích cho ta thấy rằng nghệ thuật điêu khắc thời Lư không những tiếp thu nghệ thuật Trung Hoa mà c̣n của Champa nữa: Nhạc công và vũ nữ, h́nh tượng thần điều Garuda.
Ca hát nhảy múa là những sinh hoạt phổ cập trong dân chúng. Hát ả đào đă xuất hiện. Cảnh vũ nữ múa dân hoa hay vũ công vừa múa vừa sử dụng nhạc cụ được khắc trên các phù điêu. Đua thuyền, múa rối nước là sinh hoạt lễ hội không thể thiếu được trong cuộc sống văn hóa của người dân đời Lư.
Ta có thể nói đời Lư là một giai đoạn phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc.
Ngoài những ông vua lỗi lạc của nhà Lư như Lư Thái Tổ, Lư Thái Tông, Lư Thánh Tông, Lư Nhân Tông, nước Việt thời Lư c̣n có những nhân vật nổi tiếng như Lê Phụng Hiểu, Lư Đạo Thành, Lê Văn Thịnh... đặc biệt có Lư Thường Kiệt, một nhà quân sự tài ba và ỷ Lan Nguyên phi, một người phụ nữ đă phát huy được khả năng trong việc cai trị đất nước.
ỷ Lan nguyên phi
ỷ Lan quê ở làng Thổ Lỗi (Thuận Thành, Hà Bắc). Năm 1062 vua Lư Thánh Tông đă 40 tuổi mà không có con nên thường đi các nơi để cầu tự. Một hôm vua qua làng Thổ Lỗi, trong khi mọi người đổ ra đường xem xa giá th́ bà đang hái dâu, chỉ đứng dựa cây lan mà nh́n. Vua thấy thế làm lạ, cho gọi đến để hỏi. Thấy bà xinh đẹp, đối đáp dịu dàng lại thông minh sắc sảo, vua đưa về cung và phong làm ỷ Lan phu nhân. Năm 1066 bà sinh Thái tử Càn Đức và được phong là Nguyên phi.
Lúc bấy giờ giữa Đại Việt và Champa đang xảy ra chiến tranh biên giới. Vua Lư Thánh Tông phải thân chinh đi đánh (1069). Vua giao cho bà quyền giám quốc. Sau nhiều trận không thành công, Lư Thánh Tông rút quân về nước. Trên đường về kinh đô, nghe báo là bà ỷ Lan thay vua trị nước được yên vui, Thánh Tông nghĩ: "Người đàn bà trị nước c̣n được như thế, ta đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm à! Vua đem quân trở lại và lần này chiến thắng.
Năm 1072, Lư Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới bảy tuổi lên nối ngôi. Bà được phong làm Thái phi. Có tài liệu ghi rằng lúc bấy giờ Thái hậu họ Dương buông rèm lo việc triều chính. ỷ Lan lên làm Hoàng Thái Hậu (tức Linh Nhân Thái Hậu) giúp vua trị nước. Trước họa nhà Tống lăm le xâm lăng Đại Việt, bà đă nghe theo lời Lư Thường Kiệt gọi Lư Đạo Thành trở lại giữ chức Thái phó B́nh Chương quân quốc trọng sự để lo việc triều chính. Đây là lúc triều đ́nh nhà Lư tổ chức thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống. Lư Thường Kiệt đă đem quân đánh sang tận Ung Châu, Liêm Châu, năm sau chận đứng quân xâm lăng ở sông Như Nguyệt buộc chúng phải rút về nước. Trong việc trị nước, Thái hậu coi trọng việc phát triển nông nghiệp, bảo vệ trâu ḅ dùng làm sức kéo. Thương những phụ nữ nghèo khổ phải đem thân thế nợ, không thể lập gia đ́nh, bà cho xuất tiền chuộc họ và t́m người gả chồng cho. Thái hậu cũng chú ư mở mang đạo Phật. Tương truyền bà đă cho xây dựng đến 100 ngôi chùa để mong chuộc lại lỗi đă bức tử Dương Thái Hậu cùng các cung nữ trước kia.
Lư Thường Kiệt
Lư Thường Kiệt vốn tên là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, quê ở làng An Xá, huyện Quảng Đức (Cơ Xá, Gia Lâm, Hà Nội). Từ nhỏ ông đă ham chuộng cả văn lẫn vơ, thích đọc sách và tập luyện vơ nghệ. Năm 20 tuổi, ông được bổ làm một chức quan nhỏ trong đội kỵ binh. Sau theo lời khuyên của vua Lư Thái Tông, ông tự hoạn để vào làm quan trong cung. Ông được thăng dần lên đến chức Đô tri nội thị sảnh, trông coi mọi việc trong cung vua. Đến năm 1069, ông được cử làm Đại tướng theo vua Lư Thánh Tông tiến công Champa. Lư Thường Kiệt bắt được Chế Củ trong dịp này khi tiến quân đến tận biên giới Chân Lạp (vùng Phan Rang, Phan Thiết ngày nay). Chiến thắng trở về, ông được phong làm Phụ quốc Thái phó, tước Khai quốc công và được vua Lư nhận làm con nuôi, v́ thế ông đổi sang họ Lư và có tên là Lư Thường Kiệt.
Năm 1072, Lư Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức (7 tuổi, con của ỷ Lan Nguyên phi) lên nối ngôi, tức là Lư Nhân Tông, Thái hậu Thượng Dương cùng Thái sư Lư Đạo Thành là phụ chính nhưng Lư Thường Kiệt giúp ỷ Lan (đă trở thành Linh Nhân Thái hậu) truất quyền phụ chính của Thái hậu Thượng Dương, giáng Lư Đạo Thành xuống làm Tả gián nghị Đại phu và đổi đi trấn nhậm ở Nghệ An. ỷ Lan lên làm Phụ chính c̣n Lư Thường Kiệt làm Tể tướng.
Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, nhà Tống đang gặp khó khăn về mọi mặt. Tể tưởng của nhà Tống là Vương An Thạch đưa ra Tân pháp để giải quyết những bế tắc của Trung Quốc. Một trong những biện pháp của Tân pháp Vương An Thạch là phải tạo nên uy danh cho nhà Tống bằng cách bành trướng xuống phía Nam, xâm lăng Đại Việt. Do vậy nhà Tống cho tích trữ lương thảo, quân dụng tại các thành Ung Châu (Quảng Tây), Khâm Châu và Liêm Châu (Quảng Đông) để chuẩn bị cho cuộc xâm lăng. Trước t́nh thế đó Lư Thường Kiệt chủ trương như sau: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc". Trước hết để củng cố nội bộ, ông đề nghị cùng ỷ Lan mời Lư Đạo Thành về lại triều đ́nh giữ chức Thái phó trông coi việc triều chính. Trước họa nước, Lư Đạo Thành hợp lực cùng Lư Thường Kiệt tích cực chuẩn bị việc đối phó.
Cuối năm 1075, Lư Thường Kiệt đem 10 vạn quân tiến sang đất Tống đánh vào Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu. Sau 42 ngày vây hăm quân Việt chiếm được thành Ung Châu. Sau khi phá hủy phần lớn căn cứ hậu cần của quân Tống, tháng 4.1076, Lư Thường Kiệt cho rút quân về. Cuối năm ấy, nhà Tống cử tướng Quách Quỳ đem 30 vạn quân theo hai đường thủy bộ sang xâm lược Đại Việt. Lư Thường Kiệt cho lập pḥng tuyến kiên cố dọc theo sông Như Nguyệt để chặn địch. Đồng thời ông cũng cho quân đón đánh thủy binh địch và đă ngăn được hai cánh quân thủy bộ của địch phối hợp với nhau. Trên pḥng tuyến Như Nguyệt, chiến trận diễn ra ác liệt. Để cổ vũ quân sĩ, ông làm nên bài thơ và cho người đêm khuya vào đền thờ Trương Hát ở bờ Nam sông Như Nguyệt giả thần nhân đọc vang lên:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)
Nhờ thế tinh thần quân sĩ thêm hăng hái. Sau hơn ba tháng đánh không thắng lực lượng bộ binh, không thể sang sông v́ thiếu thủy binh hỗ trợ, quân Tống bị chết mất quá nửa lại thêm bệnh tật đe dọa, Quách Quỳ lâm vào thế quẫn bách. Lư Thường Kiệt chủ động đề nghị ḥa để mở lối thoát cho quân địch nhằm sớm chấm dứt chiến tranh. Đến tháng ba năm 1077 Quách Quỳ rút quân về nước. Từ đấy quân Tống từ bỏ ư định xâm lược Đại Việt.
Nhà Lư để lại nhiều công tŕnh kiến trúc có tính chất Phật giáo như tháp Báo Thiên (Hà Nội) cao vài mươi trượng (trên 60m), tháp Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi) cao 13 tầng... Đặc biệt có chùa Một Cột, tuy không cao lớn, đồ sộ nhưng lại thanh thoát nhẹ nhàng, biểu trưng chiều sâu văn hóa. Để tưởng nhớ triều Lư, người đời sau có xây Đền Đô (c̣n gọi là đền Lư Bát Đế) tại đất phát tích của nhà Lư. Đền Đô, tuy không được xây dựng vào thời nhà Lư, nhưng vẫn mang những đường nét của thời ấy với h́nh tượng những con rồng, hoa sen, lá sen... Ngoài ra, nhà Lư c̣n truyền lại nhiều loại h́nh nghệ thuật độc đáo như múa khiên, đánh cầu và đặc biệt là múa rối nước.
1. Chùa Một Cột
Chùa được xây dựng vào năm 1049. Chùa có tên là Diên Hựu, nghĩa là phúc lành dài lâu. Tục truyền rằng một đêm vua Lư Thái Tông nằm một thấy Phật Bà Quan Âm dẫn đi thăm một ṭa sen. Vua đem giấc mộng kể lại cho bá quan văn vơ nghe. Triều thần cho là điềm gỡ, khuyên vua nên xây một ngôi chùa để cầu phúc.
Chùa có h́nh dáng như một hoa sen mọc trên nước. Ṭan bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá cao chừng 20m. Các cột gỗ đỡ mái được bố trí uốn lượn chồng chéo tạo nên đường nét của cánh sen. Bên dưới là ao vuông tượng trưng cho đất. Chung quanh là cây cối xum xuê. Tổng thể khu kiến trúc tạo nên được không khí thanh tịnh của chữ Thiền.
Chùa Một Cột ngày nay có quy mô nhỏ hơn chùa nguyên thủy v́ bị tàn phá và trùng tu lại nhiều lần, nhưng vẫn c̣n mang dán dấp độc đáo của ngôi chùa Diên Hựu xưa.
2. Đền Lư Bát Đế
Làng Cổ Pháp xưa, nay thuộc làng Đ́nh Bảng (huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc), quê hương của Lư Thái Tổ, là nơi hội tụ nhiều kiến trúc cổ. Trong đó có đền Lư Bát Đế thờ tám vị vua của triều Lư. Đền c̣n gọi là đền Đô v́ do Đô nguyên soái Vũ Kỳ Sỹ xây nên vào năm 1600-1602.
Từ khi được xây vào thế kỷ XVII, đền trải qua nhiều thời kỳ bị hư hao nặng. Và đến năm 1952 đền lại bị quân Pháp phá hoại để truy kích du kích Đ́nh Bảng. Vào năm 1989, để kỷ niệm 980 năm lên ngôi của Lư Thái Tổ, đền được trùng tu lại y như cũ. V́ thế, do qua nhiều lần trùng tu, ngôi đền hiện nay không tượng trưng được hoàn toàn cho nghệ thuật kiến trúc thời Lư, tuy nhiên, đây là nơi cổ kính mang dáng dấp triều Lư, một triều đại đă đặt nền móng vững chắc cho văn hóa dân tộc.
Trước khi bước vào đền là hồ bán nguyệt và thủy đ́nh, nơi đây hàng năm, vào dịp hội đền Đô tháng ba âm lịch vẫn thường được tổ chức biểu diễn múa rối nước. Cổng tam quan có năm cửa rộng. Sân rộng có lát đá để đi đến nhà tiền tế và điện thờ trung tâm. Có hai con voi lớn bằng vôi vữa phủ phục chầu tại đây. Có nhà văn chỉ, vơ chỉ, nhà hiệu, nhà để kiệu, nhà chủ tế. H́nh tượng con rồng uốn lượn, ẩn trong mây, trong lá sen được trang trí trên gỗ hay trên đá gợi nhớ đến thời Đại La trở thành Thăng Long.
Hàng năm hội đền được tổ chức trọng thể từ ngày 14 đến ngày 16 tháng ba âm lịch. Các nghi thức của hội này gồm có lễ dâng hương, lễ tế "hiến sinh" và lễ rước. Lễ hiến sinh được cử hành trong cả ba ngày lễ. Vật tế là một con trâu thui. Lệ tế trâu thui xuất phát từ việc vua Lư Thần Tông đền ơn cho sự Minh Không. Nguyên vua Lư Thần Tông bị bệnh mọc lông đầy người, trông giống hổ. Nhà sư Minh Không trị được cho vua. V́ thế, khi ông mất, vua phá lệ cấm giết trâu, cho phép giết một con trâu để tế cho ông. Lễ rước th́ được tiến hành từ đền Lư Bát Đế đến chùa Cổ Pháp. Số kiệu được rước là tám chiếc, tượng trưng cho tám ông vua của triều Lư. Sau đó là các tṛ chơi như đấu vật, đu dây, chọi gà, cờ người. Những tṛ chơi này tượng trưng cho sự đấu trí, thi tài chiến lược của các chinh nhân thời Lư.
Trong số con cháu nhà Lư c̣n sót lại, đặc biệt có hậu duệ của Hoàng tử Lư Long Tường, hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc. Nguyên vào năm 1226, sau khi nhà Trần lật đổ nhà Lư, Hoàng tử Lư Long Tường, con thứ hai của vua Lư Anh Tông, em của vua Lư Cao Tông, cùng thuộc hạ vượt biển chạy trốn, bị băo đánh dạt vào lănh thổ Cao Ly (Hàn Quốc ngày nay). Tại đây Hoàng tử đă có công giúp nước Cao Ly chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông vào năm 1253 và được vua Cao Ly ưu đăi, phong tước là Hoa Sơn Tướng Quân, ngoài ra c̣n cấp cho thái ấp 30 lư, nhân khẩu 20 hộ. Con cháu của ông cũng từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong các vương triều Cao Ly, Triều Tiên. Hiện nay hậu duệ của Hoàng tử gồm có chừng 200 gia đ́nh, đang sinh sống tại Thủ đô Seoul và Youdo-dong và đă truyền đến đời thứ 31. Họ vẫn giữ được gia phả của ḿnh và luôn luôn hướng về đất quê Tổ.
Lư Xương Căn, người cháu thứ 26 của Hoàng tử đă trở về quê hương và đă đến đền Đô thắp hương tưởng nhớ đến Tổ tiên oanh liệt của ḿnh (1994). Một hội thảo khoa học với đề tài: "Lễ hội kỷ niệm Hoàng tử Long Tường" được "Hiệp hội Hợp tác phát triển Văn hóa Kinh tế Hàn-Việt" tổ chức từ 17 đến 22 tháng 10 năm 1994 tại hai địa điểm Seoul và trấn Hoa Sơn (tỉnh Hoàng Hải) có sự tham gia của nhiều nhà sử học Việt Nam và Hàn Quốc. Ngoài ra, một cuộc hành tŕnh của các đại biểu ḍng họ về viếng đất Tổ được tổ chức vào dịp kỷ niệm ngày Lư Thái Tổ lên ngôi vào tháng ba (âm lịch) năm 1995. Ngày 13.4.1995 cuộc hành hương bắt đầu bằng một buổi lễ diễu hành dọc đường Lư Thái Tổ ở Hà Nội. Ngày hôm sau, cả đoàn đến đền Đô dự lễ hội. Cuộc trở về của di duệ họ Lư ở Hàn Quốc càng thắt chặt mối quan hệ giao lưu giữa hai nước Việt Nam-Hàn Quốc.
3. Múa rối nước
Vào thời Lư, các loại h́nh văn nghệ đă trở nên đa dạng. Lư Thái Tổ có đặt chức "quan giáp" để trông coi người ca múa. Lư Nhân Tông cho xây nhà múa (vũ định). Các tṛ tiêu khiển như múa khiên, đánh cầu rất phổ biến trong giới quư tộc cũng như trong dân gian. Múa rối nước, một nghệ thuật dân gian độc đáo của Việt Nam, đă được phôi thai từ trước thời nhà Lư tại đồng bằng sông Hồng. Dưới thời nhà Lư, thể loại nghệ thuật này trở nên tinh xảo và từ đó truyền đến bây giờ. Có tài liệu xác định năm 1121 là mốc mà múa rối nước trở thành một nghệ thuật phổ biến. Đó là bia đá Sùng Thiện Diên Linh (chùa Chọi, Duy Tiên, Nam Hà), ghi lại việc diễn rối nước như một nghi lễ mang tính nghệ thuật để mừng thọ nhà vua. Hiện nay, ở trước cửa chùa Thầy (Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây), trên hồ Long Tŕ, c̣n lại một di tích gần như nguyên vẹn của một sân khấu rối nước được xây cất từ thời Lê.
Múa rối nước là một nghệ thuật biểu diễn bằng con rối trên mặt nước, kết hợp một cách kỳ ảo hai yếu tố rối và nước. Sân khấu của rối nước là ao, hồ của làng mạc thôn quê. Khán đài là băi cỏ quanh đấy. Rất thuận tiện cho dân chúng đến thưởng lăm.
Trên nước là một ṭa thủy đ́nh hai tầng, tầng trên dùng để thờ Tổ, tầng dưới là hậu trường có mành che. Khác với các loại h́nh biểu diễn khác, nghệ nhân của tṛ múa rối nước không xuất hiện trên sân khấu. Họ đứng trong nước, núp sau bức mành tre, điều khiển các con rối bằng một hệ thống que, dây phức tạp, đ̣i hỏi tŕnh độ kỹ thuật, nghệ thuật tinh xảo.
Các con rối được làm bằng gỗ, thường là gỗ sung, v́ gỗ sung nhẹ, nổi trên nước được. Rối cao không quá 50cm và được điêu khắc một cách tinh xảo. Chúng được sơn phết lộng lẫy bằng sơn ta để không bị đổi màu khi xuống nước và không thấm nước. Mỗi con rối là một tác phẩm điêu khắc của các nghệ nhân. Họ phải nghiên cứu kịch bản, phác ra trên giấy một h́nh tượng rối với đủ tính chất, thần sắc cùng vóc dáng, trang phục phù hợp với nhân vật, sau đó mới đến giai đoạn đục khắc trên gỗ. Gỗ sung phải có số tuổi từ 4 đến 5 năm mới thích hợp, v́ nếu gỗ non quá th́ dễ bị mục. Do nước hủy hoại, các con rối chỉ được sử dụng nhiều lắm là 100 buổi diễn. H́nh tượng các con rối thường là những con người, con vật quen thuộc của cuộc sống Việt Nam như nông dân, ông câu, con cá, ếch, nhái, rùa...
Trước đây, múa rối nước biểu diễn không lời, chỉ dùng động tác để diễn tả. Về sau, múa rối trở nên phong phú hơn, không những có lời mà c̣n được tăng cường thêm nhạc và cả pháo bông nữa. Mở đầu buổi diễn thường có tṛ bật cờ. Sau hồi chiêng trống inh ỏi pháo nổ ḍn tan, từng chiếc cờ sặc sỡ đột nhiên từ dưới nước phóng lên, tạo nên một bầu không khí háo hức. Sau đó là các màn diễn. Nội dung của các vỡ diễn là những câu chuyện thần tiên hay chuyện đời thường ư nhị. Các con rối xuất hiện bất ngờ thoắt ẩn, thoắn trên làn nước lung linh, rất thần diệu. Đó là cảnh đôi rồng vàng uống lượn, nhảy vờn, miệng phu nước, bỗng nhiên lặn xuống, biến mất, rồi bất chợt phóng lên, phun đầy lửa khói. Hoặc có khi là cảnh nông dân, trâu cày lội ch́m trong nước. Trẻ con bơi lội, nô đùa, ếch nhái nhảy tung tăng. Một chú chồn bắt được vịt con, phóng tuốt lên cao. Có chàng nơm cá. Cả đàn cá con nối đuôi theo cá mẹ, thế mà chàng chài không nơm được, lại chộp trúng vào một cô thôn nữ đang b́ bơm lội. Hoặc đấy là cảnh hai đô vật đang tranh tài. Họ xông vào nhau, ôm gh́ lấy nhau, lừa miếng, đẩy, chống, thiện nghệ chẳng khác ǵ đô vật thật. Đặc biệt, rối nước có nhân vật chú Tễu, một chàng trai có thân h́nh lực lưỡng, nét mặt vui tươi, chuyên đóng vai hề như trong hát chèo. Ngoài ra c̣n có các vỡ diễn có nội dung là những truyện cổ Việt Nam như "Tấm Cám", "Thạch Sanh".
Múa rối nước thường được biểu diễn tại các lễ hội, như hội Gióng Phù Đổng, hội chùa Thầy, hội chùa Trăm Gian... Đặc biệt làng Nguyễn ở xă Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái B́nh là có truyền thống, c̣n sáng tác thêm các vở hiện đại như "B́nh dân học vụ", "Chiến thắng sông Lô".
Múa rối nước là sản phẩm tinh thần độc đáo của cư dân lúa nước vùng đồng bằng sông Hồng. Hiện nay múa rối nước đă phát triển khắp nước và càng khẳng định giá trị nghệ thuật của ḿnh. Múa rối nước không những chỉ chinh phục ḷng ngưỡng mộ của người Việt Nam mà c̣n của thế giới nữa. Các cuộc lưu diễn nước ngoài đă giới thiệu thành công thể loại văn hóa tuyệt diệu này, làm thành một nhịp cầu giao lưu giữa Việt Nam và các nước bạn.
4. H́nh tượng con rồng Việt Nam
Con rồng là một h́nh tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam và đă từng là biểu tượng linh thiêng liên quan đến truyền thuyết con rồng cháu tiên của người Việt. Rồng là h́nh ảnh mà các vua Việt Nam phải xăm lên đùi ḿnh để giữ truyền thống của cư dân ven biển. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm rồng trên đùi của các vua. Rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng thiên tử (bệ rồng, ḿnh rồng). Rồng là h́nh tượng của mưa thuận gió ḥa, là vật linh đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh "long, lân, quy, phụng". V́ thế, h́nh tượng con rồng Việt Nam tương phản với h́nh tượng con rồng độc ác, tượng trưng cho cái xấu của các nước phương Tây.
H́nh tượng rồng đă được h́nh dung lên từ thời đại Hùng Vương qua con vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng thời ấy.
Qua thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng, con rồng Việt Nam xuất hiện rơ nét dưới thời Lư. H́nh ảnh "rồng bay lên" Thăng Long tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lư tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước, của mây cuộn. Rồng thời Lư là con vật ḿnh dài như rắn, thân trơn nếu là con nhỏ, c̣n con lớn th́ thân có vẩy và lưng có vây. Thân rồng uống cong nhiều ṿng uyển chuyển theo h́nh "Omega", mềm mại và thoải nhỏ dần về phía đuôi. Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn. Đầu rồng ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quư. Từ mũi thoát ra mào rồng có dạng ngọn lửa, v́ thế được gọi là mào lửa. Trên trán rồng có một hoa văn giống h́nh chữ "S", cổ tự của chữ "lôi", tượng trưng cho sấm sét, mây mưa.
H́nh tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lư. Rồng thời Trần không c̣n mang nặng ư nghĩa mơ ước nguồn nước nữa. Dạng tự chữ "S" dần dần mất đi hoặc biến dạng thành h́nh con, đồng thời xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng uy nghi và đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tṛn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng vơng h́nh yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi th́ đuôi thẳng và nhọn, khi th́ xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vẩy như những nửa h́nh hoa tṛn nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng.
Rồng thời Lê (thế kỷ XV) thay đổi hẳn. Rồng không nhất thiết là một con vật ḿnh dài rắn uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh (bốn con vật thiêng) tượng trưng cho uy quyền của vương triều Rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là lân (tượng trưng cho sự thái b́nh và minh chúa), qui (con rùa - tượng trưng sự bền vững của xă tắc) và phụng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại).
Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn c̣n đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đă được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như h́nh rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi.
Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn ḿnh trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn ḿnh rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt ch́a ra cân xứng hai bên. H́nh tượng rồng dùng cho vua có năm móng, c̣n lại là bốn móng.
Hiện nay h́nh tượng con rồng tuy không c̣n tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công tŕnh kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật... Trong mọi thời điểm nào, con rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt.
xxx
Nhà Trần (1225-1400)
Các vua triều Trần
I. Giai đoạn hưng thịnh của nhà Trần
Trần Cảnh (1218-1277) lên làm vua lấy hiệu là Trần Thái Tông, cha là Trần Thừa làm Thượng hoàng, chú là Trần Thủ Độ làm Quốc Thượng phủ. Từ đó, v́ Trần Thái Tông c̣n nhỏ, Trần Thủ Độ đă chi phối rất nhiều đến công việc chính trị như việc bức tử Thượng hoàng Lư Huệ Tông (1226), việc xây dựng lại thành Thăng Long (1230), việc thảm sát tập thể tôn thất nhà Lư (1232).
Khi lớn lên, Trần Thái Tông tỏ rơ ra có bản lĩnh, đưa được xă hội đă bị rối loạn cuối triều Lư trở lại ổn định. Để sửa lại kỷ cương đă quá lỏng lẻo cuối triều Lư, nhà vua định ra pháp luật khá nghiêm khắc. Những người phạm tội trộm cắp đều phải chặt chân, chặt tay, thậm chí bị voi giày.
Khác với các vua nhà Lư, các vua Trần có lệ nhường ngôi sớm cho con để lên làm Thái Thượng hoàng. Thái Thượng hoàng cùng vua trông nom việc nước. Thực chất đây là giai đoạn thực tập thuật trị nước cho vị vua mới.
Hệ thống quan lại cũng được định chế lại dưới triều vua Trần Thái Tông. Cao hơn hết là Tam Công, Tam Thiếu, Thái úy, Tư Mă, Tư Đồ, Tư Không. ở dưới là các quan văn vơ chia làm hai chức: nội chức (quan tại triều ở các bộ) và ngoại chức (quan địa phương). Cứ 10 năm th́ các quan được thăng thêm một hàm và 15 năm th́ lên một chức. Ai có quan tước th́ con được thừa ấm làm quan, c̣n những người khác bất kể giàu nghèo đều phải đi lính. Tuy thế, những người có học vẫn có thể tham chính qua con đường thi cử.
Các vua Trần rất chú ư đến việc chiêu hiền đăi sĩ. Từ năm 1232 vua Trần Thái Tông đă mở khoa thi Thái học sinh, đến năm 1247 lại đặt ra Tam khôi: Trạng nguyên, Bảng nhăn, Thám hoa. Chính trong kỳ thi này đă xuất hiện nhiều kỳ tài như Trạng nguyên 13 tuổi Nguyễn Hiền, Bảng nhăn và về sau là sử gia Lê Văn Hưu.
Triều Trần phân ra hai loại ruộng công: ruộng quốc khố và ruộng thác điền. Ruộng thác điền là ruộng thưởng công cho các quan, đóng thuế rất ít. Thuế thân th́ căn cứ vào số ruộng có được mà đóng bằng tiền c̣n thuế ruộng th́ đóng bằng thóc.
Trong nước có một số thay đổi về hành chính. Năm 1242, Trần Thái Tông chia nước ra làm 12 lộ, mỗi lộ có An Phủ sứ chánh và phó cai trị và có sổ dân tịch riêng. Dưới lộ là phủ, châu huyện do các Đại Tư xă hay Tiểu Tư xă trông coi, Đơn vị sau cùng là làng xă. Xă quan do dân bầu, được gọi là chánh sử giám.
Người trong nước được phân ra từng hạng: con trai vào 18 tuổi th́ gọi là tiểu hoàng nam, từ 20 tuổi là đại hoàng nam, 60 tuổi trở lên là lăo hạng.
Dưới triều vua Trần Thái Tông, vào năm 1258, quân Mông Cổ sang xâm lược Đại Việt. Nhà vua lănh đạo toàn dân, đẩy lui được cuộc xâm lăng này. Sau chiến thắng, vua nhường ngôi cho Thái tử Hoảng và lên làm Thái Thượng hoàng. Ngài về quê Tức Mặc, lập cung Trùng Quang để ở, dành th́ giờ đi ngao du sơn thủy và nghiên cứu Thiền học. Ngài trước tác một số tác phẩm quan trọng như "Kiến trung thường lệ" (năm quyển), "Quốc triều thông chế", một số thi văn và quan trọng nhất là cuốn cảo luận triết học 'Khóa hư lục". Ngài làm Thái Thượng hoàng 19 năm th́ mất (1277).
Trần Thánh Tông là một ông vua nhân từ. Dưới triều của nhà vua, trong nước b́nh yên không có nội loạn hoặc ngoại xâm. Nhà vua chú trọng đến nông nghiệp, bắt các vương hầu công chúa chiêu tập những người nghèo đói lưu lạc để khai khẩn đất hoang. Điền trang của vương hầu bắt đầu có từ đấy.
Năm 1278 vua Trần Thánh Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Trần Khâm và lên làm Thượng Hoàng.
Thái Tử Trần Khâm lên làm vua, lấy hiệu là Trần Nhân Tông.
Dưới thời Trần Nhân Tông, chữ Nôm bắt đầu được trọng dụng. Nguyễn Thuyên, quan H́nh bộ Thượng thư đă làm thơ phú bằng chữ Nôm, về sau nhiều người làm theo và gọi đó là Hàn luật.
Một điểm son khác của thời này là công cuộc đánh đuổi quân Nguyên. Đế quốc Nguyên Mông bành trướng thế lực, diệt được nhà Tống, phát động hai lần xâm lược Đại Việt từ 1284 đến 1288. Nhưng vua Trần Nhân Tông cùng các kiệt tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần B́nh Trọng, Phạm Ngũ Lăo, Trần Quốc Toản... đă oanh liệt đánh bại toán quân được mệnh danh bách chiến bách thắng này.
Năm 1293, khi việc nước đă ổn định, vua Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên và lên làm Thái Thượng hoàng rồi đi tu ở núi Yên Tử lấy hiệu là Trúc Lâm đầu đà. Sau khi Thượng hoàng mất, các môn đệ tôn ông là Đệ nhất Tổ phái Trúc Lâm.
Thái tử Trần Thuyên lên ngôi, ấy là Trần Anh Tông. Đây là một bậc minh quân biết trọng đăi tôi trung, thưởng phạt phân minh và có một chính sách cai trị vững vàng.
Vua Anh Tông không kể ǵ đến thân hay sơ trong việc dùng người, nhà vua chỉ căn cứ vào tài năng mà cho chấp chánh chứ không cứ phải là người họ Trần. V́ thế nhà vua được nhiều nhân tài giúp sức như Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu, Phạm Ngũ Lăo.
Một nhân vật khá đặc biệt và tài ba là Mạc Đĩnh Chi, người học tṛ thi đỗ Trạng Nguyên vào năm 1304, đă giúp vua tích cực trong việc ngoại giao với nhà Nguyên. Trong chuyến đi sứ vào năm 1308, với tài năng ứng đối linh động ông đă thu phục được sự kính nể của vua Nguyên và được vua Nguyên phong danh hiệu "Lưỡng quốc Trạng nguyên".
Đoàn Nhữ Hài là một người học tṛ có tài đă giúp vua ổn định được hai châu Ô và Lư. Trương Hán Siêu vốn là mạc khách của Trần Hưng Đạo, được Trần Hưng Đạo tiến cử lên vua. Vua trọng dụng ông, sai ông soạn nên những bộ sách quan trọng về tổ chức chính quyền và về luật pháp như "Hoàng Triều Đại Điển", "H́nh Luật Thư".
Dưới thời Trần Anh Tông, Đại Việt có thêm được đất hai châu Ô và Lư (vùng đất B́nh Trị Thiên ngày nay) do cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân, em vua với Chế Mân, vua Champa. Để cưới được công chúa Huyền Trân, Chế Mân (Shinhavarman III) lấy hai châu ấy làm lễ dẫn cưới. Một năm sau khi gả Huyền Trân, vào năm 1307, vua Anh Tông cho thu nhận hai Châu Ô và Lư, đổi tên lại là Hóa Châu và Thuận Châu, sai Đoàn Nhữ Hài vào kinh lư và đặt quan cai trị.
Dưới thời Anh Tông, tục lệ Việt Nam có nhiều thay đổi như tục xâm ḿnh của các vua được băi bỏ. Từ thời Hùng Vương cho đến bấy giờ, các vua Việt có tục lệ lấy chàm vẽ rồng vào đùi nhưng Anh Tông từ chối thực hiện tục lệ ấy. V́ thế các vua thời sau cũng không theo nữa. Một hủ tục khác cũng được bỏ dần, đó là tục hôn nhân cận huyết của họ Trần. Dù chưa được chấm dứt hẳn nhưng hôn nhân trong họ đă dần dần ít đi.
Vua Trần Anh Tông làm vua đến năm 1314 th́ nhường ngôi cho Thái tử Mạnh và lên làm Thái Thượng Hoàng.
Thái tử Mạnh (Minh Tông) lên làm vua, thừa hưởng được sự thịnh trị của các triều vua trước. Các quan đại thần tài năng trước như Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu tiếp tục giúp vua cai trị đất nước. Ngoài ra c̣n có các nhân vật khác nổi lên như Mạc Đĩnh Chi, Chu An góp phần vào việc chấp chánh.
Dưới thời vua Minh Tông, các quân sĩ không phải vẽ ḿnh như trước nữa (1323) và từ đấy nước ta bỏ lệ vẽ ḿnh. Để đề cao t́nh gia tộc, nhà vua ra lệnh cấm người trong họ đi kiện nhau. Danh nho Chu An đỗ Thái học sinh năm 1314, nhưng không ra làm quan. Măi sau, nghe danh tiếng của ông, vua Minh Tông mời ông ra bổ nhiệm làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám và dạy học cho Thái tử Trần Hạo.
2. Công cuộc chiến đấu chống Nguyên Mông (1258-1288)
2.1 Chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ nhất (1258)
Chiến công đầu tiên xảy ra dưới thời vua Trần Thái Tông vào năm 1258. Vào đầu thế kỷ XIII quốc gia Mông Cổ được thành lập dưới quyền uy của Thành Cát Tư Hăn (Thiết Mộc Chân), tung hoành vó ngựa xâm lược khắp Âu á và thành lập được một đế quốc rộng lớn từ bờ Thái B́nh Dương cho đến bờ biển Hắc Hải.
Vào năm 1258, Chúa Mông Cổ bấy giờ là Mong-ké (Mông Kha, cháu nội của Thành Cát Tư Hăn) sai em là Hốt Tất Liệt (Kubilay) đánh lấy nước Đại Lư (Vân Nam bây giờ) và chuẩn bị đánh nhà Tống. Để dùng Đại Việt làm bàn đạp tấn công nhà Tống từ phía Nam, Hốt Tất Liệt cho sứ sang bảo vua Trần phải thần phục. Vua Trần Thái Tông cho giam đoàn sứ giả lại rồi sai Trần Hưng Đạo đem quân lên giữ phía Bắc.
Không thấy đoàn sứ giả trở về, quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) tràn xuống sông Thao, xâm lấn Đại Việt. Trần Thái Tông thân chinh ra cự địch nhưng không thắng phải rút về Thăng Long. Trước sức uy hiếp của ba vạn quân Mông thiện chiến, nhà vua lại phải rút khỏi Kinh thành về đóng ở sông Thiên Mạc (Đông An, Hưng Yên).
Quân Mông Cổ chiếm được thành Thăng Long, t́m thấy đoàn sứ giả bị trói trong ngục, lại có một người đă chết nên vô cùng tức giận, ra sức chém giết dân chúng trong thành.
Trong t́nh thế nguy nan ấy vua Trần Thái Tông hỏi kế triều thần. Người em ruột của vua là Trần Nhật Hiệu khuyên nên "nhập Tống" nhưngThái sư Trần Thủ Độ khảng khái trả lời: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo". Được khích lệ, Trần Thái Tông yên tâm chuẩn bị lực lượng.
Không quá mười ngày sau khi chiếm thành Thăng Long, quân Mông Cổ đă gặp khó khăn v́ không kiếm ra được lương thực lại thêm không phủ hợp thủy thổ, nên bị ốm bệnh rất nhiều. Trần Thái tông liền phản công, cho tiến quân ngược ḍng sông Hồng đánh lấy Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng ở Hà Nội) và đuổi bật quân Mông Cổ ra khỏi Thăng Long. Quân Mông Cổ thua, chạy rút về Vân Nam, trên đường tháo chạy, v́ quá mỏi mệt và khiếp sợ nên không quấy nhiễu dân chúng, do đó được gọi là giặc Phật.
Ngày mồng một Tết năm Mậu Ngọ (1258), vua Trần Thái Tông ngự triều làm lễ phong thưởng cho các người có công. Một tháng sau đó, nhà vua truyền ngôi cho Thái tử Hoảng và lên làm Thái Thượng hoàng. Đại Việt có được một thời gian yên b́nh từ sau chiến thắng này cho đến năm 1285.
Tuy t́nh h́nh trong nước yên ổn, nhưng quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và Mông Cổ gặp nhiều rắc rối. Nhân dịp vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho vua Trần Thánh Tông, vua Mông Cổ sai sứ sang phong vương và đặt điều lệ là ba năm phải cống một lần. Lệ cống gồm có nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số và thợ thuyền. Mỗi thành phần ba người, cùng với các sản vật quư như sừng tê, ngà voi, đồi mồi... Ngoài ra, vua Mông Cổ c̣n đặt quan giám trị (Đạt lỗ hoa xích) để kiểm tra các châu quận của Đại Việt.
Tuy bề ngoài thần phục Mông Cổ nhưng vua Trần Thánh Tông chú trọng việc quân sự để pḥng bị. Vua cho tuyển đinh tráng ở các lộ làm lính, phân quân đội ra làm quân và đô, mỗi quân có 30 đô, mỗi đô có 80 người.
Năm 1266, vua sai sứ sang Mông Cổ thương lượng để không phải cống người nữa. Vua Mông Cổ đồng ư nhưng ra 6 điều khoản khác:
Vua Thánh Tông cứ lần lữa không chấp nhận. Bấy giờ Hốt Tất Liệt đă lên làm vua Mông Cổ (1260), cho sứ sang dụ vua Trần sang chầu. Vua Trần Thánh Tông cáo bệnh không đi.
Năm sau, Hốt Tất Liệt lại cho sứ sang xác định vị trí của cột đồng Mă Viện. Vua Thánh Tông cho trả lời là cột ấy lâu ngày mất đi rồi, không t́m ra.
Đến năm 1275 vua Thánh Tông cho sứ sang nhà Nguyên (Hốt Tất Liệt đổi quốc hiệu thành Đại Nguyên vào năm 1271) xin miễn chức giám trị đi, mà thay vào một loại có tư cách như sứ thần. Nhà Nguyên không chịu, cứ bắt Đại Việt phải tuân thủ 6 điều lệ như đă định. Vua Trần Thánh Tông cũng không nhượng bộ.
Năm 1279 nhà Nguyên đánh bại nhà Tống, làm chủ Trung Hoa. Từ đó nhà Nguyên tiếp tục mở rộng đất đai về phía Nam. Đại Việt trở thành mục tiêu của đại quân tinh nhuệ nhà Nguyên.
Nghe tin vua Trần Nhân Tông lên ngôi (1279) vua Nguyên sai sứ là Sài Thung sang hạch hỏi, lấy cứ vua Trần dám tự lập làm vua không xin phép triều đ́nh nhà Nguyên. Sài Thung buộc vua Nhân Tông phải sang chầu Nguyên chủ để chuộc lỗi nhưng vua từ chối.
Năm 1282, nhà Nguyên lại cho sứ sang dụ vua qua chầu, vua cử người chú là Trần Di ái đi thay ḿnh. Vua Nguyên không bằng ḷng, lập ra "tuyên phủ ty" để giám trị Đại Việt. Khi phái đoàn nhà Nguyên đến để tiến hành việc giám trị, vua nhân Tông cho đuổi về.
Hốt Tất Liệt bèn mua chuộc Trần Di ái, phong ái làm An Nam quốc vương và sai Sài Thung dẫn 1.000 quân hộ tống về nước. Vua Trần cho quân đón đánh ở ải Nam Quan, Sài Thung bị bắn mù một mắt phải tháo chạy về nước c̣n Trần Di ái th́ bị bắt, bị tội đồ làm lính.
2.2 Chiến thắng quân Mông Cổ lần thứ hai (1285)
Năm 1282. Nguyên chủ sai con là Thoát Hoan làm Trấn Nam Vương, cùng Toa Đô và Ô Mă Nhi dẫn 50 vạn quân giả lấy tiếng mượn đường sang Champa. Riêng Toa Đô chỉ huy một toán thủy binh, tiến đánh Champa bằng đường biển.
Trước mưu toan xâm lược của quân Nguyên, vua Trần triệu tập công hầu, quan lại tại B́nh Than (Hải Hưng) bàn kế pḥng đánh và chia quân đóng giữ các nơi hiểm yếu. Trần Hưng Đạo được phong làm tiết chế thống lĩnh toàn quân, Trần Quang Khải làm thượng tướng, Trần Khánh Dư làm phó Đô tướng quân.
Để khích lệ mọi người đứng lên chiến đấu v́ đại nghĩa Trần Hưng Đạo viết và truyền bài hịch nổi tiếng "Hích Tướng Sĩ"
Trong hịch có đoạn tha thiết: "... Huống chi ta cùng các người, sinh ra vào lúc rối ren, lớn lên vào buổi hoạn nạn, thấy sứ giả của giặc qua lại dọc ngang ngoài đường, khua tất lưỡi cú vọ mà khinh rẻ triều đ́nh, đem cái thân dê chó mà ngạo mạn tể tướng... Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, nước mắt đầm đ́a, ruột như như cắt, chỉ giận không được ăn thịt nằm da, đốt gan uống máu thù, dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, ngh́n xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam ḷng..."
Tướng sĩ được khích lệ, ai nấy một ḷng diệt giặc. Họ lấy mực xâm lên tay hai chữ "sát Đát" để tỏ ḷng quyết tâm của ḿnh.
Trần Hưng Đạo phân công Trần Khánh Dư đem quân ra trấn giữ cảng Vân Đồn, c̣n Trần B́nh Trọng th́ đi đóng đồn trên sông B́nh Than. Phạm Ngũ Lăo đóng từ biên giới cho đến Chi Lăng, Trần Nhật Duật đóng ở Tuyên Quang đến Tam Đái (Nam Phú Thọ, Đông Bắc Vĩnh Yên). Các tướng khác cũng đem quân đóng giữ các nơi quan yếu. Riêng Trần Hưng Đạo đóng ở Nội Bàng (vùng xă B́nh Nội, Bắc Giang), trên con đường đi về Vạn Kiếp (Hải Dương) để tiếp ứng cho các nơi. Trong khi ấy, vua Nhân Tông cho người mang lễ vật sang xin nhà Nguyên hoăn binh nhưng nhà Nguyên không chấp nhận. Thoát Hoan được lệnh tiến quân. Vua Nhân Tông bèn triệu tập hội nghị Diên Hồng để bàn xem nên ḥa hay nên đánh. Các bô lăo đều đồng thanh xin đánh (1.1285).
Tháng 1.1285, đại quân do Thoát Hoan chỉ huy ào ạt tiến qua Lạng Sơn, nhằm đến Nội Bàng. Trên đường đi, tuy bị quân của Đại Việt chận đánh kịch liệt, đại quân của Thoát Hoan vẫn kéo đến được Nội Bàng và bao vây quân Đại Việt tại đây. Ngày 2.2.1285, một trận chiến ác liệt nổ ra. Thấy thế quân Nguyên quá mạnh, Trần Hưng Đạo cho quân rút về Vạn Kiếp. Thoát Hoan lại cho quân truy đuổi, dùng lực lượng kỵ binh hùng hậu bao vây Vạn Kiếp. Một lần nữa, Trần Hưng Đạo lại cho rút quân. Một bộ phận đến đóng ở Hải Đông (Hải Dương), một bộ phận khác tiến về Lạng Sơn, c̣n đại bộ phận rút về giữ Nam ngạn sông Hồng. Cầm cự một thời gian, đại quân rút về Thiên Trường (Nam Định). Vua và triều đ́nh cùng rời bỏ Thăng Long về tụ tại đây.
Quân Nguyên vào thành Thăng Long, gặp phải cảnh "nhà không vườn trống", một chiến thuật của nhà Trần được nhân dân hưởng ứng. Thoát Hoan cho một toán quân truy đuổi quân Trần Hưng Đạo đến Thiên Trường. Để chặn bước tiến của địch, Trần Hưng Đạo cho đánh một trận ở sông Thiên Mạc (Hưng Yên). Tại đây Trần B́nh Trọng bị bắt và tử tiết với lời nói bất hủ: "Ta thà làm quỷ nước Nam c̣n hơn làm vương đất Bắc".Bấy giờ 100.000 quân của Toa Đô không đánh thắng được Champa, bèn kéo quân theo đường bộ ra đánh Nghệ An để hợp quân với Thoát Hoan. Thoát Hoan liền sai Ô Mă Nhi đem quân theo đường bể tiếp ứng. Trần Hưng Đạo cho Trần Quang Khải đưa binh vào đóng ở Nghệ An chận đường Toa Đô. Toa Đô liền dùng thuyền nhỏ đưa quân theo đường biển ra Trường Yên (Ninh B́nh ngày nay).
T́nh h́nh hết sức nguy cấp. Quân địch hai gọng từ phía Bắc và dưới phía Nam, cùng đánh thốc để hợp quân. Trần Hưng Đạo phải đưa vua chạy đến Hải Dương, sau đó đến Quảng Yên rồi lại theo đường sông trở về lại Thanh Hóa. Trong hoàng tộc họ Trần có người ra đầu hàng mà điển h́nh là Trần ích Tắc, con thứ năm của Trần Thái Tông.
Để chặn không cho Toa Độ hội quân cùng Thoát Hoan, Trần Hưng Đạo điều động Trần Nhật Duật cùng Trần Quốc Toản đón đánh Toa Đô ở bến Hàm Tử (Hưng Yên). Toa Đô thua to phải rút về chống giữ. Đồng thời Trần Hưng Đạo phái Trần Quang Khải cùng Phạm Ngũ Lăo và Trần Quốc Toản đi ṿng đường bể, đánh thẳng vào quân Nguyên ở Chương Dương và tiến sát thành Thăng Long. Thoát Hoan đem quân ra chống cự không lại phải bỏ thành Thăng Long chạy về Bắc Ninh. Quân Đại Việt chiếm lại được thành Thăng Long. Để đánh dấu chiến thắng này, Trần Quang Khải làm bài thơ "Tụng giá hoàn kinh sư".
Trong khi ấy, Trần Hưng Đạo cho tiến quân đánh Toa Đô và Ô Mă Nhi ở Tây Kết. Toa Đô bị trúng tên chết c̣n Ô Mă Nhi th́ chạy trốn về nước.
Nghe tin Toa Đô tử trận, Thoát Hoan vội đem quân chạy, định rút về, nhưng Trần Hưng Đạo đă đoán được ư đồ ấy, cho Phạm Ngũ Lăo đợi ở Vạn Kiếp, khi quân Nguyên chạy sang th́ đổ ra đánh. Quân Nguyên thua to, mất hết nửa quân số c̣n Thoát Hoan th́ phải chun vào ống đồng cho quân đẩy chạy về. Quân Đại Việt đại thắng.
2.3. Chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ ba (1287-1288)
Thất bại nặng nề ấy làm Hốt Tất Liệt hết sức tức giận, quyết định đ́nh việc đi đánh Nhật Bản và sai đóng thêm chiến thuyền, chuẩn bị sang đánh lại Đại Việt. Sang năm 1287 quân Nguyên ồ ạt kéo sang. Quân bộ vẫn do Thoát Hoan chỉ huy, vượt biên giới, đánh vào Lạng Sơn rồi tiến xuống phía Nam và đóng tại Vạn Kiếp. Quân thủy gồm 600 chiến thuyền lớn, do Ô Mă Nhi chỉ huy, tiến vào Đại Việt bằng đường biển và hội quân cùng Thoát Hoan ở Vạn Kiếp.
Biết đại quân như thế tất phải có nhu cầu cao về lương thực, Trần Hưng Đạo phân công Trần Khánh Dư đem quân chặn đánh đường vận lương của quân Nguyên. Trần Khánh Dư tập kích địch ở Vân Đồn, phá được thuyền lương của địch. Đợi măi không thấy thuyền lương, Thoát Hoan xua quân tiến đến Thăng Long. Triều đ́nh nhà Trần phải rút về Thanh Hóa. Thoát Hoan đốt phá kinh thành rồi rút quân về Vạn Kiếp. Nhưng Thoát Hoa không thể ở đây được lâu. Thiếu lương thực trầm trọng, Thoát Hoan phải rút quân. Trên đường tháo chạy, đến sông Bạch Đằng, quân của Thoát Hoan lọt vào trận địa cọc ngầm do Trần Hưng Đạo bố trí sẵn. Ô Mă Nhi bị bắt, Thoát Hoan thoát được về nước (1288).
Tuy thắng trận, nhưng trước sức mạnh của quân Nguyên vua Trần Nhân Tông cho người sang xin giảng ḥa. Vua Nguyên cũng đành bằng ḷng.
Vua Trần định công tội cho quan lại, ghi chép công trạng của tướng sĩ vào sách gọi là Trung Hưng thực lục. C̣n những người trong hoàng tộc đă đầu hàng và hợp tác với quân Nguyên th́ bị bắt buộc phải đổi họ khác. Ngoài ra để yên ḷng dân chúng, vua và Thái Thượng hoàng cho đốt hết tất cả hàng biểu đi. Từ đó dân chúng yên tâm xây dựng lại đất nước.
Sự nghiệp củng cố đất nước, sự nghiệp chống xâm lăng của triều Trần đă để lại trong ḷng dân chúng một niềm mến phục sâu xa. Cho nên khi Hồ Quư Ly giành ngôi nhà Trần, dù có nhiều cải cách quan trọng và tích cực, nhưng ḷng người vẫn c̣n nhớ đến các vua Trần.
II. Giai đoạn suy vong
Nội bộ họ Trần mất đoàn kết vào khoảng cuối thời trị v́ của vua Minh Tông. Nhà vua v́ nghe lời dèm pha, giết hại Trần Quốc Chân, một công thần và đồng thời là cha của Hoàng hậu. Từ đó mầm mống chia rẽ nổi lên.
Vua Minh Tông nhường ngôi cho Thái Tử vào năm 1329 lên làm Thượng hoàng. Thật ra Thượng hoàng vẫn nắm trọn quyền hành v́ Trần Hiển Tông khi làm vua chỉ có 10 tuổi và đến năm 23 tuổi th́ chết. Một người con khác của Minh Tông lên làm vua là Trần Dụ Tông.
Bắt đầu từ đây triều đại nhà Trần suy yếu dần. Vua Dụ Tông là người rượu chè, hoang phí, hay xây cung điện và đánh bạc. Các người tài giỏi của thời trước th́ đă qua đời, thế hệ tiếp chưa có ai, chỉ c̣n lại Chu An. Thấy triều đ́nh chính nghiêng ngả, Chu An dâng sứ xin chém 7 nịnh thần (vẫn thường được gọi là "Thất trảm sớ") nhưng vua không nghe, Chu An bèn từ quan về ở ẩn.
Trong nước loạn lạc khắp nơi. Ngoài ra, người Chăm, dưới sự lănh đạo của vị vua tài ba Chế Bồng Nga, đ̣i lại đất Hóa Châu và Thuận Châu.
Từ đấy cho đến khi bị Hồ Quư Ly cướp ngôi, triều Trần lâm vào cảnh rối loạn. Quân Chăm đánh phá liên tục. Các ông vua không đủ sức bảo vệ đất nước. Một ông vua bị giết tại trận chiến (vua Trần Duệ Tông) c̣n quân Chăm th́ "ra vào Đại Việt như chỗ không người". Trong các năm 1377, 1378 quân Chăm vào đánh tận Thăng Long, vua Trần phải bỏ thành mà chạy. Măi đến 1389. Trong một trận quyết chiến, Trần Khát Chân giết được Chế Bồng Nga, đất nước mới tạm yên về mặt đối ngoại, nhưng trong nội bộ th́ thế lực của nhà Trần đă hết. Một thế lực khác nổi lên chi phối toàn bộ việc triều chính, đó là của Lê Quư Ly.
Lê Quư Ly vốn có tổ tiên họ Hồ, người Chiết Giang (Trung Quốc) sang sinh sống ở Quỳnh Lưu. Đến ông tổ bốn đời của Quư Ly lại dời ra Thanh Hóa làm con nuôi cho một gia đ́nh họ Lê nên đổi ra hộ Lê. Quư Ly có hai người cô đều lấy vua Trần Minh Tông, một người là mẹ của vua Trần Nghệ Tông, người kia là mẹ của Trần Duệ Tông. Dưới triều vua Trần Nghệ Tông (1370-1372), Lê Quư Ly làm đến chức Khu Mật đại sứ và rất được Nghệ Tông tin dùng. Vào đời Trần Duệ Tông (1372-1377), ngoài việc bản thân vua là con người cô của Quư Ly, th́ hoàng hậu cũng là em họ của Quư Ly. Uy quyền của Quư Ly v́ thế nghiêng trời lệch đất.
Sau khi vua Trần Duệ Tông chết trong trận đánh với quân Chăm, con là Trần Nghiện lên nối ngôi, sử sách thường gọi là Đế Hiển (1377-1388). Nhà vua thấy Lê Qúy Ly quá chuyên quyền muốn trừ đi nhưng âm mưu bại lộ. Quư Ly bèn tâu với Thượng hoàng Nghệ Tông rằng Đế Hiển chỉ là cháu của Nghệ Tông mà lại được làm vua, xưa nay thiên hạ bỏ cháu nuôi con chứ không ai bỏ con nuôi cháu. Nghệ Tông nghe lời, giáng Trần Nghiện xuống rồi bắt thắt cổ chết và lập con út của ḿnh lên làm vua, đó là Trần Thuật Tông (1388-1398).
Quư Ly đem con gái gả cho Thuật Tông c̣n bản thân th́ giữ chức Phụ chính Thái sư. Vào năm 1397 Quư Ly cho xây dựng kinh đô mới ở Thanh Hóa, gọi là Tây Đô (tức là thành ) rồi ép vua phải vào đấy ở.
Năm sau, Quư Ly lại ép Trần Thuận Tông phải nhường ngôi cho con là Trần án (cũng là cháu ngoại của Quư Ly). Nhưng rồi Thuận Tông cũng bị Quư Ly bức tử chết.
Trần án chỉ mới ba tuổi, lên làm vua là Trần Thiếu Đế. Quư Ly xưng là Quốc tổ Chương hoàng đế, mặc áo màu bồ hoàng, ở cung Nhân thọ, lạm dụng nghi vệ của thiên tử, ra vào dùng đến 12 chiếc lọng vàng. Một số quan đại thần mưu loại trừ Quư Ly nhưng bất thành, bị Quư Ly trả thù, giết đến 370 người, trong số ấy có tướng Trần Khát Chân.
Vào năm 1400, Quư Ly phế Trần án và tự xưng làm vua thay cho nhà Trần. Nhà Trần chấm dứt sau 175 năm trị v́, trải qua 12 đời vua.
III. Kinh tế - Xă hội dưới đời Trần
Dưới thời Trần đă xuất hiện những sở hữu đất đai rất lớn, đó là những điền trang của quư tộc và quan lại. Nhà Trần khuyến khích việc khẩn hoang, đặt ra chức Đồn điền chánh sứ và phó sứ để phụ trách việc khẩn hoang. Vua Trần Thánh Tông chủ trương cho các vương hầu, công chúa, pḥ mă chiêu tập dân nghèo đi khai khẩn các vùng đất ven biển. Nhờ vậy mà những điền trang hoặc thái ấp rộng lớn đă xuất hiện. Như thái ấp của Trần Hưng Đạo ở Nam Định hoặc điền trang của nhà sư Pháp Loa, đệ nhị tổ phái thiền Trúc Lâm. Nhà sư này có đến khoảng 15.000 đệ tử, 1.000 tá điền và gần 2000 mẫu ruộng.
Công việc đê điều cũng được các vua đầu đời Trần chăm sóc, các chức Hà đê phó chánh sứ được đặt ra dưới triều vua Trần Thái Tông đă đưa công việc bảo vệ đê điều vào quy củ. Năm 1244, đê Đĩnh Nhĩ (đê Quai Vạc) được đắp dọc theo hai bên bờ sông Hồng, ngăn được nước lũ cho các đồn điền ven sông. Nhà Trần c̣n ra lệnh bồi thường cho nông dân nếu đê đắp lấn vào ruộng của dân. Hàng năm, vào tháng giêng quan Hà đê phải đốc thúc việc bồi đắp các đê đập cho đến mùa hè th́ phải xong. Vào mùa mưa lở, quan phải thân hành đi kiểm tra t́nh h́nh đê điều và khi hữu sự th́ bất phân giàu nghèo, già trẻ ai ai đều phải tham gia việc bảo vệ đê.
Công thương nghiệp đă có những bước phát triển mới. Kinh đô Thăng Long có vùng phụ cận, có chợ, có phố xá và các phường thủ công. Buôn bán được mở rộng trao đổi với nước ngoài. Hải cảng cho tàu buôn nước ngoài đến là Vân Đồn, các tàu buôn từ Trung Quốc và các nước Đông Nam á tấp nập ra vào thương cảng này.
Trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông, nền kinh tế nước nhà bị chựng lại. Kinh thành Thăng Long bị quân thù chiếm đóng ba lần. Nhiều công tŕnh kiến trúc bị thiêu hủy, nhiều làng xóm bị phá hoại. Sau chiến tranh, nền kinh tế được phục hồi nhanh chóng. Kinh thành được xây dựng lại, chùa chiền mọc lên.
IV. Phát triển văn hóa
Văn học
Vào thời Trần, đội ngũ trí thức tiếp thu tư tưởng tu, tề, trị, b́nh của Nho giáo phát triển mạnh. Tư tưởng này ḥa lẫn với ḷng yêu nước, với ḥa khí của dân tộc đă được phát huy cao độ qua ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. áng văn tiêu biểu nhất cho hào khí này là "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo. Bài hịch đă viết từ 700 năm trước nhưng tinh thần "cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh" vẫn c̣n làm rung động người ngày nay.
Bên cạnh bài hịch bất tử ấy, c̣n có nhiều tác phẩm bộc lộ khí phách dân tộc như bài thơ ứng khẩu "Tụng giá hoàn kinh sư" của Trần Quang Khải sau khi thắng trận Chương Dương, đuổi quân Nguyên ra khỏi thành Thăng Long.
Đoạt sáo Chương Dương độ,
Cầm Hồ Hàm Tử quan
Thái b́nh tu nỗ lực
Vạn cổ thử giang sơn
(Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân Hồ
Thái b́nh nên gắng sức
Non nước nọ ngh́n thu).
Hoặc bài "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lăo:
Hoành sáo giang sơn cáp kỷ
thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.
(Ngang giáo non sông trải mấy thâu
Ba quân hùng dũng khí thôn Ngưu...)
Các vua quan và văn nhân đă sáng tác rất nhiều: các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Thánh Tông, Nghệ Tông đều có làm thơ, vua Anh Tông soạn "Thủy Vân tùy bút", Trần Quang Khải có "Lạc Đạo Tập", Chu An có "Tiều ẩn thi tập", Trần Nguyên Đán có "Băng Hồ Ngọc Hán tập", Nguyễn Phi Khanh có "Nhị Khê tập", sư Huyền Quang có "Ngọc Tiên tập".
Trương Hán Siêu là người có tài văn chương và chủ trương bài xích tệ mê tín dị đoan, ông thường dùng văn chương để đả kích các tệ hại trên. Bài phú Bạch Đằng Giang của ông là một kiệt tác ca ngợi ư chí tự cường của dân tộc vùng vẻ đẹp của giang sơn gấm vóc.
Khoa học lịch sử đă có một bước tiến đáng kể. Trước hết là bộ "Đại Việt sử kư" của Lê Văn Hưu (1230-1322), được soạn xong vào năm 1272 sau đó là các tác phẩm "Việt Nam thế chí" và "Việt Sử cương mục" của Hồ Tông Thốc (thế kỷ 14); "An Nam chí lược" của Lê Tắc; "Việt sử lược" của tác giả khuyến danh (1377). Ngoài ra c̣n có các văn kiện quan trọng như "B́nh Thư yếu lược", "Vạn kiếp bí truyền", "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo, "Thất trảm sớ" của Chu An, "Ngọc Tĩnh liên phú" của Mạc Đĩnh Chi "Bạch Đằng Giang phú" của Trương Hán Siêu, "Việt điện u linh tập" của Lư Tế Xuyên, "Khóa hư lục" của Trần Thái Tông, "Thiền uyển tập anh" của tác giả khuyến danh... Tất cả đều là những tuyệt tác có giá trị vô cùng to lớn cho kho sử liệu của nước nhà.
Kiến trúc thời Trần không huy hoàng như thời Lư nhưng cũng có những công tŕnh quan trọng như tháp mộ của vua Trần Nhân Tông trước chùa Phổ Minh ở Tức Mặc (Nam Định) xây năm 1310, thành ở Thanh Hóa (1397).
Âm nhạc thời Trần có chịu ảnh hưởng của Champa. Chiếc trống cơm rất thịnh hành thời ấy nguyên là nhạc khí của Champa. Đó là loại được dán hai đầu bằng cơm nghiền, được dùng để ḥa cùng với dàn nhạc trong các dịp lễ Tết.
Nghệ thuật hát chèo đă manh nha từ thời này. Theo Phạm Đ́nh Hổ trong "Vũ Trung Tùy bút" th́ vào những lúc có quốc tang, người xúm đen xem chật ních không thể rước tang được, nên mới sinh ra một nhóm người chuyên đi dẹp đường. Để lôi kéo sự chú ư của đám đông, nhóm người có bổn phận đi mở đường bèn đi hát diễn trên đường, mọi người đổ xô tới xem. Như thế mới có thể rước đám tang đi. Từ đó, những bài hát của những người này phong phú hơn và được gọi là "phường chèo".
Tôn giáo
Vào đời Trần, Nho giáo phát triển song song cùng phật giáo và đồng thời Lăo giáo cũng được ưa chuộng.
Phật giáo Sau khi thay nhà Lư, triều Trần tiếp tục truyền thống sùng tín đạo Phật và đồng thời phát huy lư thuyết Nho giáo như là một hệ triết lư chính trị cần thiết để cai trị đất nước. Phật giáo vẫn là một tôn giáo có thế lực nhất trong tất cả các loại tôn giáo thời ấy và có ảnh hưởng sâu đậm trong mọi tầng lớp cũng như mọi lănh vực.
Vua Trần Thái Tông là một nhà nghiên cứu uyên thâm về Phật học, khi làm Thái Thượng hoàng, đă chú tâm nghiên cứu lư thuyết nhà Phật và là tác giả của tác phẩm cảo luận Thiền học "Khóa hư lục".
Tác phẩm "Khóa hư lục" vẫn c̣n lưu truyền cho đến ngày nay và đă được dịch ra chữ Quốc ngữ. Trong tác phẩm này Trần Thái Tông nêu lên thuyết tu hành là để diệt khổ chứ không phải vất bỏ cuộc đời để đi tu.
Người sáng lập ra phái Trúc Lâm Yên Tử, phái thiền tư của Việt Nam là vị vua thứ ba của nhà Trần tức là Trần Nhân Tông. Là người đă oanh liệt thống lĩnh toàn quân và dân đánh thắng hai lần xâm lược của nhà Nguyên, đă áp dụng những chính sách "nới sức dân" khi c̣n tại vị, đến khi nhường ngai vàng cho con trai, người đă đi chu du khắp nơi rồi lên ở tu hẳn trên núi Yên Tử, lấy pháp danh là Trúc Lâm đại đầu đà. Nhân Tông viết rất nhiều tác phẩm phật học nhưng phần nhiều đă thất truyền. Với lư thuyết đề cao thái độ hướng tâm, đi t́m sự giác ngộ bằng cái tâm tĩnh lặng của chính ḿnh, là "Phật tại tâm" chứ không cần g̣ bó khư khư theo khuôn phép giáo điều nào, nhà vua đă để lại một ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển đạo Phật và thời Trần. Chùa được xây dựng lên vô kể, các hội hè Phật giáo được tổ chức không ngừng.
Tổ thứ hai của phái thiền Trúc Lâm là Thiền sư Pháp Loa. Nhân vật này có một uy quyền đặc biệt, có cả hàng ngàn đệ tử, sở hữu gần hai ngàn mẫu ruộng và đă cho đúc ba ngàn bức tượng Phật. Đó là một hiện tượng không b́nh thường mà chỉ có thể giải thích được bằng sự cực thịnh của Phật giáo.
Ta có thể nói, dưới ảnh hưởng của các vị vua phật tử và các nhà thiền sư thời ấy, Phật giáo đă đạt đến mức phát triển huy hoàng của một tôn giáo, nếu không muốn nói rằng Phật giáo đă trở thành như quốc giáo vậy.
Nhưng đến cuối đời Trần, Phật giáo bị lạm dụng và bị phức tạp nhiều yếu tố mê tín, dị đoan. Đồng thời, số tăng sĩ thất học tăng lên, nhiều tệ nạn xảy ra. Các vua Trần Hiển Tông và Trần Thuận Tông phải mở các kỳ thi sát hạch kiến thức Phật học cùng họ, để bắt các tăng sĩ thất học, giả danh, phải hoàn tục.
Trong khi ấy th́ giới nho sĩ lại được đào tạo theo trường lớp, tham chính qua đường thi cử gian nan, bắt đầu tấn công những tệ nạn trong giới Phật giáo. Điển h́nh là Trương Hán Siêu, chủ trương bài xích mê tín dị đoan. Thấy các chùa tháp mọc lên khắp nơi, ông viết bài kư châm biếm: 'Trong thiên hạ ba phần, chùa chiếm ở một phần, bỏ rứt luân thường, hao tổn của báu, ngây ngây mà chơi, ngẩn ngẩn mà theo..."
Như thế, vào cuối đời Trần, Phật giáo không những tự bản thân bị suy yếu đi mà c̣n Nho giáo tấn công để chiếm địa vị ưu thế trong xă hội.
Nho giáo: Khác hẳn với Phật giáo có lư thuyết thiên về nội tâm, về sự giác ngộ, về sự giải thoát con người ra khỏi bể khổ là cuộc đời, Nho giáo đ̣i hỏi con người phải nhập thế. Lư thuyết của Nho giáo dùng làm khuôn mẫu cho việc trị nước, cho việc tổ chức gia đ́nh và cho việc tu thân, đă gặp môi trường thuận lợi trong xă hội Việt Nam dưới đời Trần, một xă hội đang phát triển đ̣i hỏi một thái độ nhập thế thiết thực.
Ngay từ dưới thời nhà Lư, Nho giáo đă được bước đầu phát triển. Các vua Lư đă mở các khoa thi nho học. Vua Lư Thánh Tông cũng đă lập Văn miếu để thờ Khổng Tử, Chu Công và 72 vị tiền hiền. Đến thời nhà Trần các khoa thi được mở đều đặn và qui củ hơn. Nhà Trần mở ra Quốc sử viện để dạy tứ thư ngũ kinh cho con cháu các nhà quư tộc, Quốc học viện để cho các nhà nho có nơi rèn luyện việc học hành. Ngoài ra các trường tư cũng được khuyến khích, như trường tư của Chu An, nơi đă đào tạo nên các nhà nho nổi tiếng như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, hoặc trường của Trần ích Tắc giúp các văn nhân ở xa đến học và cấp cơm áo cho các hàn sĩ.
Tầng lớp nhà nho được đào tạo qua các trường, các kỳ thi càng ngày càng đông tử sĩ. Hàng ngũ họ ngày càng có uy tín trong quan trường. Ta có thể kể những tên tuổi nổi tiếng như Lê Văn Hưu, Chu An, Mạc Đĩnh Chi, Hàn Thuyên, Trướng Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Hồ Tông Thốc... Họ lần lần chiếm lấy vai tṛ lănh đạo của các nhà sư trong đời sống chính trị và đồng thời công kích các nhà sư ham mê nhà cửa lộng lẫy, vườn xinh cảnh đẹp, phung phí của công vào việc xây dựng chùa chiền quá nhiều và quá to, mà lại trốn tránh lao động trong chiếc áo tu hành.
Vào cuối đời Trần, Nho giáo chiếm ưu thế và đẩy phật giáo ra khỏi diễn đàn chính trị. Từ đó, các triều đại nối tiếp cũng chỉ dùng Nho giáo như khuôn mẫu cho việc trị nước chăn dân.
V. Nhân vật, di tích tiêu biểu
Nhà Trần đă để lại một dấu ấn lớn trong lịch sử Việt Nam với sự nở rộ đáng kể về số lượng danh nhân. Ta có thể phân biệt các danh nhân dưới triều Trần ra làm hai: Danh nhân thuộc họ Trần và danh nhân ngoài ḍng họ Trần. Trong họ Trần, đó là Trần Thái Tông (Trần Cảnh, 1218-1277), Trần Thánh Tông (Trần Hoảng, 1240-1290), Trần Nhân Tông (Trần Khâm, 1258-1308), Trần Hưng Đạo (12??-1300), Trần Quang Khải (1241-1294), Trần Khánh Dư (?-1285), Trần Thủ Độ (1194-1264), Trần Huyền Trân, Trần Khát Chân (?-1399), Trần Quốc Toản... Những danh nhân ngoài ḍng họ Trần có thể kể như sau: Lê Văn Hưu (1230-1322), Nguyễn Thuyên, Chu An (1292-1370), Mạc Đĩnh Chi (1272-1346), Phạm Ngũ Lăo (1255-1320), Yết Kiêu, Dă Tượng, Nguyễn Hiền, Trương Hán Siêu (?-1354), Phạm Sư Mạnh, Hồ Tông Thốc... Trong số các danh nhân ấy, xin giới thiệu một người trong ḍng họ Trần là thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản và một nhân vật ngoài ḍng họ Trần là Lê Văn Hưu, sử gia đầu tiên của đất nước.
Trần Quốc Toản (1266-?)
Hội nghị B́nh Than là một hội nghị giữa nhà vua cùng các vương hầu, quan lại, tướng soái cao cấp của nhà Trần để bàn sách lược chống lại sự xâm lăng của Nguyên Mông. Trong không khí bừng bừng ấy, một thiếu niên tôn thất nhà Trần là Trần Quốc Toản có theo đến nhưng v́ c̣n nhỏ (16 tuổi) nên không được dự bàn. Quốc Toản uất ức, tay đương cầm quả cam bóp bẹp ra lúc nào không biết. Khi tan hội, các vương hầu ai nấy ra về, lo việc sắm sửa binh thuyền để cự địch. Trần Quốc Toản cũng thế, về nhà cho may một lá cờ to với sáu chữ "Phá cường địch, báo hoàng ân" (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Ông tụ họp được hơn ngh́n người thân thuộc, cùng nhau chuẩn bị vũ khí để chống giặc. Đến khi xuất trận, Quốc Toản luôn đi trước, khí thế dũng mănh, đánh chỗ nào quân địch cũng phải lùi.
Trong hai cuộc chiến thắng chống quân Nguyên (1284-1288), Trần Quốc Toản đều lập được công lớn. Trong trận Hàm Tử (1284), Quốc Toản được cử làm phó tướng cho Trần Nhật Duật, thắng trận, Quốc Toản được hân hạnh là người đưa tin về cho Trần Hưng Đạo. Đến trận Chương Dương, Quốc Toản đă cùng Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lăo đốc quân tử Thanh Hóa đi ṿng đường bể đến tấn công bất ngờ vào quân Nguyên ở Chương Dương. Trong trận đuổi quân Thoát Hoan ra khỏi thành Thăng Long, Quốc Toản cũng góp phần đáng kể.
Không rơ vị dũng tướng thiếu niên này hy sinh trong trận nào và vào năm nào. Chỉ biết một chi tiết là khi Quốc Toản chết trận, vua Trần Nhân Tông thương khóc làm bài văn tế có nội dung như sau:
Cờ đề sáu chữ giải hờn này
Lăn lóc muôn quân vẫn đánh say
Công thắng quân Nguyên đà chắc trước,
Từ khi cam nát ở trong tay
(bản dịch)
Lê Văn Hưu (1230-1322)
Lê Văn Hưu là một học giả xuất sắc của đời Trần, và là người hậu thế xem là sử gia đầu tiên của Việt Nam. Ông quê làng Phú Lư (thôn Phủ Lư Nam, xă Thiệu Trung), huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông nổi tiếng là người thông minh và học giỏi từ nhỏ. Năm 1247 nhà Trần mở khoa thi đầu tiên lấy tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhân, Thám hoa), Lê Văn Hưu đậu Bảng Nhăn, lúc đó ông mới 17 tuổi, Ông được bổ làm Kiểm pháp quan (một chức quan về h́nh luật), sau lại được sung chức Hàn lâm viện Học sĩ kiêm Quốc sứ viện Tu giám. Thời gian này Lê Văn Hưu được vua Trần Thái Tông sai soạn bộ "Đại Việt sử kư" viết về lịch sử Việt Nam từ đời Triệu Đà (207 trước Công nguyên) đến đời Lư Chiêu Hoàng. Không rơ Lê Văn Hưu soạn bộ này từ lúc nào, chỉ biết đến năm 1272 th́ hoàn tất. Bộ sử gồm tất cả ba mươi quyển, được đưa lên cho vua Trần Thánh Tông xem và được nhà vua khen ngợi.
Lê Văn Hưu có thời gian làm đến Thượng Thư bộ binh và là phó của Thượng tướng Trần Quang Khải, được phong tước Nhân Uyên hầu. Ông mất ngày 23.3 năm Nhâm Tuất (13322) thọ 92 tuổi, an táng tại xứ Mả Gịm, nay thuộc thôn Phủ Lư Nam xă Triệu Trung, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.
Tác phẩm của Lê Văn Hưu được biết duy nhất chỉ có bộ "Đại Việt sử kư" nhưng nay đă thất truyền. Tuy thế, chính từ cơ sở chủ yếu của bộ sử này mà Ngô Sĩ Liên, một sử gia đời Lê đă soạn được bộ "Đại Việt sử kư toàn thư" có giá trị để người đời sau hiểu về cội nguồn của dân tộc.
Chùa Phổ Minh
Chùa Phổ Minh tọa lạc trên quê hương của họ Trần ở thôn Tức Mặc, xă Lộc Vượng, huyện Mỹ Lộc, cách thành phố Nam Định khoảng chừng 3 km về phía Bắc.
Các vua nhà Trần, dù bận việc triều chính ở Thăng Long nhưng luôn hướng về quê hương, và khi lên làm Thái Thượng hoàng th́ thường về sống ở đấy. Vua Trần Thái Tông, sau khi đuổi quân Mông Cổ ra khỏi đất nước, liền nhường ngôi cho con (1258), về sống ở Tức Mặc, cho xây cung Trùng Quang ở đây và thăng làng Tức Mặc lên làm phủ Thiên Trường. Chùa Phổ Minh được xây vào buổi đầu của vương triều (1262) nên có quy mô khá to lớn. Chùa nằm về phía Tây của cung Trùng Quang. Chùa Phổ Minh c̣n được gọi là chùa Tức Mặc hay chùa Tháp. Không biết chùa được xây từ năm nào, nhưng kiến trúc quan trọng nhất của chùa là chiếc tháp th́ được hoàn thành vào năm 1305.
Cấu trúc của chùa dựa theo trục cân xứng từ cổng Tam Quan qua nhà bia, tháp và đền toàn Tam Bảo. Trong toàn Tam Bảo có nhiều tượng đẹp và sinh động như tượng "Phật nhập Niết Bàn", "Văn Thù Bồ Tát", "Phổ Hiền Bồ Tát".
Hiện vật tượng trưng cho nghệ thuật khắc gỗ của đời Trần c̣n lưu lại đáng chú ư nhất là bốn cánh cửa bằng gỗ lim lớn (mỗi tấm cao 1m92, rộng 0m79) được lắp ráp ở nhà Bái Đường, ngay ở lối đi vào chính giữa của chùa. Bốn cánh cửa này hiện nay vẫn c̣n chắc chắn và nguyên vẹn dù đă trải qua 700 năm. Mỗi cánh cửa được chạm rồng công phu và tinh xảo, con rồng uốn lượn theo h́nh lá đề rất uyển chuyển. Tất cả hoa văn ấy được bố trí cân xứng nhau, cho nên khi đóng lại tạo nên một không gian trang trí hoàn chỉnh. Ngoài bốn cánh cửa lim ấy ra th́ chùa không c̣n đồ gỗ nào khác của thế kỷ ấy.
C̣n chiếc tháp, v́ là cột kết cấu bằng gạch đá nên vẫn c̣n tồn tại. Tháp được xây muộn hơn chùa gần nửa thế kỷ (1305). Tháp quay mặt về hướng Nam, có h́nh chóp, cao 21m gồm 14 tầng. Tháp được xây trên một hồ cạn, vuông. Hồ có hành lang bao bọc, bốn phía có cửa. Để tháp h́nh vuông mỗi cạnh 5,2m. Tầng đế tháp cao 2,2m xây bằng đá xanh, có h́nh dáng bông sen nở x̣a mỗi cạnh đều có cửa. Các tầng tháp đều có mái cong ở bốn phía và bốn cạnh cũng đều có cửa ṭ ṿ, tầng trên nhỏ hơn tầng dưới và cứ thế vút lên tạo nên dáng vẻ cách điệu và ước lệ của một chiếc hoa sen khổng lồ đang hé nở. Phía cao trên đỉnh tháp là một chỏm nhọn có h́nh bầu rượu.
Vào năm 1987 chùa và tháp đều được trùng tu lại để bảo toàn di tích kiến trúc này cho hậu thế.
xxx
|
[ Trở Về ]-[ Văn Học & Lịc Sử ]-[ Kế Tiếp ] |
xxx
|
[ Trang Đầu ]-[ Thời Sự VN ]-[ Kinh Tế VN ]-[ B́nh Luận ]-[ Văn Học & Lịch Sử ]-[ Vườn Thơ ]-[ T́m Bài Cũ ]-[ E-mail ]-[ Đi Ra ] |