
|
[ Trang Đầu ]-[ Thời Sự VN ]-[ Tin Quốc Tế ]-[ B́nh Luận ]-[ Văn Học & Lịch Sử ]-[ Vườn Thơ ]-[ T́m Bài Cũ ] |
Bắc Kinh và cuộc Nội Chiến Việt Nam, 1954-1965:
Trung Hoa Tài Liệu Mới :
tác giả Qiang Zhai
-Nhất Thanh Tóm Dịch-
Vai Tṛ CS-Trung Quốc trong Chiến Tranh VN, 1954-1963
Trung Quốc đă đóng một vai tṛ quan trọng giúp đỡ Hồ Chí Minh thành công trong mặt trận chống Thực Dân Pháp cũng như kư hiệp định Geneva chia đôi VN 1954. Trong những thập niên sau cuộc họp mặt Geneva, Bắc Kinh vẫn tiếp tục bành trướng ảnh hưởng trong những sự thay đổi của Việt Nam. Trong quá tŕnh của cuộc họp mặt Geneva, CSVN không ngừng bám theo cũng như “xin” CS-Trung Quốc giúp đỡ và tiếp viện để củng cố quyền lực Đảng CSVN tại miền Bắc, thành lập cũng như huấn luyện quân đội CSVN, thi hành dự án Cải Cách Ruộng Đất, tu chính lại Đảng CSVN, củng cố bộ chính trị Bắc Việt, quản lư thành phố lớn và tái tạo nền kinh tế. Và như đă biết, Bắc Kinh đă cho Fang Yi lănh đạo một đoàn Trung Quốc Kinh Tế Gia đến miền Bắc Việt Nam.
Theo tài liệu Quân Sử của Bộ Trung Hoa Quân Mưu (Chinese Military Advisory Group-CMAG), ngày 27 tháng 6, 1955, Vơ Nguyên Giáp người nắm binh quyền Bắc Việt đă âm thầm đến Bắc Kinh trong vai tṛ đại biểu CSVN với sự giúp đỡ của người cầm đầu CMAG ở Việt Nam là Wei Guoqing. Vơ Nguyên Giáp bàn thảo với Bộ Trưởng Quốc Pḥng Trung Hoa Minister Peng Dehuai, và tướng Petroshevskii, một Quân Mưu cao cấp của Liên Xô tại Trung Quốc, về dự án tái tạo quân đội của Đảng CSVN và những dự án chiến tranh trong tương lai. Đại Biểu CSVN ghé thăm Trung Hoa Hạm Đội Bắc Hải trước khi trở về Hà Nội vào giữa tháng 7. Trong quá tŕnh đól, ngày 15 tháng 10, 1955, Vơ Nguyên Giáp lại âm thầm dẫn đầu một phái đoàn đại diện sang Trung Quốc, và đă bàn với Peng Dehuai và Tướng Quân Liên Xô Gushev kỳ này cũng là về những dự án củng cố quân sự và quân đội của CSVN cũng như chiến lược tương lai. Đoàn đại biểu CSVN đă tham quan những Trung Tâm Quân Sự Trung Hoa, quân trường và nh́n Quân Đội Trung Hoa học tập trước khi trở về Bắc VN vào ngày 11 tháng 12.
Tài Liệu Quân Sử của CMAG, ghi rơ rằng trong suốt 2 quá tŕnh sang Bắc Kinh của
Giáp, Giáp đă báo cáo "thành công kư kết" với CSTQ và Liên Xô "trên
những điều chính." Nhưng lại không giải thích tại sao Giáp lại mau lẹ ghé
thăm lần thứ 2 đến Bắc Kinh sau không xa chuyến âm thầm thứ nhất, và tại sao sự
hiện diện phía Liên Xô lại khác với lần đầu. Có lẻ sư bàn thảo lần thứ nhất của
Giáp, đă bỏ lại sau lưng vài vấn đề chưa giải quyết. Sự thật th́, theo tài liệu
tham khảo của Quảng Đông Đại Học Xă Hội Học, th́ Trung Hoa và Liên Xô đă có sự
bất đồng ư kiến về dự án làm sao thống nhất Việt Nam. Cố Vấn LiênXô ủng hộ sự
hoà b́nh chung sống giữa Nam, Bắc Việt Nam, kêu gọi Hà Nội
" thống
nhất đất nước qua và trong dự án Hoà B́nh Độc Lập Dân Chủ Hoá",
ngược lại
th́ phía Trung Hoa cho rằng
“tại v́ sự phá
hoại của chế độ quân chủ nên không thể nào thống nhất Việt Nam qua cái gọi dân
chủ bầu cử như đă viết trong Hiệp Định Geneva, và như vậy con đường duy nhất là
CS-Bắc Việt nên chuẩn bị cho một chiến tranh sắp tới”.
Ngày 24 Tháng 12, 1955, CSTQ quyết định rút Bộ Quân Mưu CMAG ra khỏi Vietnam;
Peng Dehuai đă cho Vơ Nguyên Giáp biết cái quyết định này. Tới vào giữa tháng 3,
1956, cán bộ cuối cùng của CMAG đă rời khỏi CSVN. Để thay thế Bộ Quân Mưu CMAG,
Bắc Kinh đă gửi đến một Ban Quân Mưu nhỏ hơn dưới quyền của Hoàng Văn Quân để
giúp đỡ CSVN.
Sự thay đổi này đă dẫn đến nhiều cuộc tranh luận lớn trong nội bộ ban lănh đạo
CSVN 1956, về quyết định
“người nào sẽ
phải gánh vác trách nhiệm về bắt trước dự án Cải Cách Ruộng Đất của Trung Quốc
từ năm 1953”
.
Trường Chinh, Tồng Thư Kư Đảng CSVN, người đă lănh đạo trong cuộc Cải Cách Ruộng
Đất, đă bị cách chức tại Quốc Hội Trung Ương vào tháng 9, 1956. Lê Duẫn, lên
thay thế lănh chức vụ Tổng Thư Kư CSVN, đă chỉ chứng Trường Chinh, tội danh thi
hành Cải Cách Ruộng Đất của Trung Quốc với Việt Nam bất chấp những sự thật xảy
ra tại Việt Nam.
Sự thất bại của Cải Cách Ruộng Đất đă khiến trong Đảng CSVN biết rơ là con đường
thống nhất Việt Nam,
như trong Hiệp Định Geneva bầu cử Dân Chủ, đă không thể thực thi. Khi cái hy
vọng thống nhất bằng ḷng dân qua bầu cử của Đảng CSVN bị sụp đổ, th́ CSVN cũng
phải đang đối diện với vấn nạn kinh tế của XHCN. Nguồn cung cấp gạo tại Hà Nội
trở thành vấn nạn, CSVN v́ đă quay lưng với hiệp dịnh Geneva, âm thầm quậy phá
miền Nam bôi nhọ và ám sát nhân viên Cao cấp của miền Nam, nên CSVN không thể mở
miệng xin mong sự giúp đơ từ kinh tế Miền Nam, CSVN ngoài phải tự trồng trọt
kiếm ăn mặt khác, ban lănh đạo Hà Nội tiếp tục quay về với Trung Quốc bất chấp
v́ nghe lời Bắc Kinh mà kết quả là những đau thương của Cải Cách Ruộng Đất.
Tháng 4, 1956, Phó Thủ Tướng CSTQ Chen Yun, một nhà kinh tế gia chuyên môn trong Đảng CS Trung Quốc, đă âm thầm không công khai đến Hà Nội. Trước lời yêu cầu của Hồ Chí Minh, Chen đưa ra dư án chính về “Ưu Tiên Kỷ Ghệ Nông Nghiệp và cũng như đặt kỷ nghệ nhỏ lên trước kỹ nghệ lớn” (light industry ahead of heavy industry) để nâng cao nền kinh tế Bắc Việt. Ban lănh đạo CSVN chấp nhận dự án của Chen. Sự thật bằng chứng là CSTQ đă bỏ ra rất nhiều trong việc nâng cao kinh tế trong phần kỹ nghệ lớn tại Trung Hoa trong 5 năm đầu vào thời gian đó, sự khoa chương phóng đại của Chen về nông nghiệp và những kỹ nghệ nhỏ rất là khác thường, và cũng như sự chứng minh là Trung Quốc luôn quan tâm nhiều đến h́nh trạng tại VN trong sự “cố vấn” và tài trợ của Bắc Kinh đối với CSVN. Chu Ân Lai lập lại sự quyết định của Chen về sự cận trọng trong những dự án kinh tế trong qua tŕnh viếng thăm Hà Nội vào ngày 18-22 tháng 11, 1956, cũng như Lai đă nói với Hồ Chí Minh phải kiềm chế những sự hấp tấp về những dư án thu hoạt Nông Nghiệp: "sự thay đổi đó phải đi từng bước một."
Nhà văn Donald S. Zagoria đă phản luận trong cuốn sách
Vietnam Triangle (VN
Tam Giác) là trong thời gian 1957 và 1960, CSVN đă thay đổi từ trung thành với
Bắc Kinh qua Liên Xô để có sự tài trợ của Liên Xô về những dự án nâng cao nền
kinh tế XHCN-VNt.11 Trên thực tế, ban lănh đạo Hà Nội vẫn tiếp tục,
báo cáo và xin lệnh CSTQ về những quyết định quan trọng như củng cố nền kinh tế
tại Miền Bắc và công cuộc cách mạng nơi Miền Nam. Trong quá tŕnh tái tạo nền
kinh tế của XHCN-VN 1958, bộ chính trị CSVN bắt đầu đặt tâm vào công cuộc cách
mạng tấn công Miền Nam VN. CSVN báo cáo và xin quyết định từ CSTQ. Vào mùa Hạ
1958, Bộ Chính Trị CSVN đưa tŕnh lên CSTQ để xin quyết định cho 2 dự án "Sự
nhận định về dự án Căn Bản cho ViệtNam trong giai đoạn mới " và "Ư kiến
về dự án thống nhất vỹ tuyến Unification Line và con đường cách mạng nơi miền
Nam."
Sau khi tham khảo cẩn thận, Ban Lănh Đạo CSTQ đă trả lời bằng một lá thư, chỉ thị "nền tảng chủ yếu nhất, những quyết định quan trọng nhất, và những dự án khẩn cấp nhất" cho công cuộc cách mạng của CSVN là phải thực thi Cách Mạng Chủ Nghĩa Xă Hội và Chủ Nghĩa Xây Dựng Xă Hội tại miền Bắc. Về phía miền Nam, CSTQ tiếp tục chỉ thị, dự án mà Hà Nội phải thực thi là phải nâng cao khẩu hiệu "Quốc Gia và Cách Mạng Dân Chủ." Tuy nhiên, khi trong thực tại sự nhận thức về công cuộc cách mạng trong lúc đó vốn dĩ bất khả thi, CSTQ kết luận, CSVN nên "thành lập một công cuộc đường hầm dài lâu, dưỡng sức, thành lập bộ tuyên truyền đến với đa số, và chờ đợi cơ hội thích hợp." Nói thẳng ra, Bắc Kinh thật sự không mong muốn lâm vào cảnh CSVN chính thức ra mặt đối kháng với Hoa Kỳ. Judging by subsequent developments, CSVN đă không dám cải lời CSTQ, trong thời gian 1958 và 1960 Hanoi luôn chú tâm vào nền kinh tế miền Bắc VN, thực thi “Dự Án 3 Năm” cải tổ chủ nghĩa về mặt kinh tế và xă hội.
Chính sách trở lại với thủ đoạn Cách mạng Bạo Lực được Trung Ương Đảng CSVN thực
thi vào tháng 5, 1959 nhưng lại không nói rơ phải đi theo đường hướng nào. Thậm
chí cũng không nhắc đến những trắc trở của sự hợp nhất giữa quân sự và chính trị
phải đối diện. Trong 2 năm kế tiếp, ban lănh đaọ CSVN tiếp tục tranh luận về
những mựu lược và sách lược. Hồ Chí Minh tiếp lục báo cáo và thỉnh
lệnh với CSTQ. Vào tháng 5, 1960, CSVN và lănh tụ CSTQ đă mở cuộc thảo luận tại
Hà Nội và Bắc Kinh về những sách lược xâm chiếm miền Nam Việt Nam.
Chu Ân Lai và Đặng Tiểu B́nh đưa ra lập luận rằng trong những sự tranh giành
trong chính trị nên hợp nhất với vũ khí và quân sự khi những thực trạng đang xăy
ra giữa những thành phố và những vùng quê trong miền Nam, một sách lược tranh
đấu uyễn chuyễn cần nên được thi hành. Với trong Thành Phố, CSTQ đưa quyết định,
tranh đấu bằng chính trị nên được làm sách lược chính, tuy nhiên nếu muốn đánh
sụp chế độ ông Diệm, th́ vũ lực thật sự là cần thiết. Bởi v́ đă có nhiều và đa
số những căn cứ nơi những vùng quê, th́ lực lượng quân sự nên được thành lập tại
đó, tuy nhiên đấu tranh bằng quân sự nên kèm theo với đấu tranh chính trị.
Vào tháng 9- 1960, CSVN mở Đại Hội Đảng CS lần thứ 3, nhưng lại không có quyết
định ǵ về những t́nh trạng thối nát hiện tại nơi miền Bắc, thay vào đó là chỉ
âm mưu đánh chiếm khi nền chính trị miền Nam Việt Nam đang lung lay. Để lợi dụng
cơ hội mới này, Quốc Hội CSVN kêu gọi và ra lệnh cho Mặt Trận Giải Phóng Miền
Nam thực thi cả 2 chính sách đấu tranh bằng chính trị và quân sự đối với miền
Nam VN, và kêu gọi sự yểm trợ tối đa từ miền Bắc. Sách lược liên kết
đấu tranh bằng quân sự và chính trị với miền Nam vốn là những dự án và quyết
định từ CSTQ.
Vào mùa Xuân 1961, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy chấp thuận tăng viện trợ về
Quân Sự và Ban Quân Mưu (MAAG) với 100 cố vấn và đă gửi đến Việt Nam 400 lực
lượng đặc biệt để huấn luyện quân đội miền Nam những cách tiếp chiến khẩn cấp.
Sự viện trợ của Hoa Kỳ với Đông Nam Á đă khiến Lănh đạo Bắc Kinh không yên tâm.
Trong lúc Thủ Tướng CS là Phạm Văn Đồng sang Bắc Kinh vào tháng 6-1961, Mao
Trạch Đông đă quyết định tăng thêm viện trợ cho mặt trận xâm lấn miền Nam trong
khi Chu Ân Lai tiếp tục hối thúc phải thực thi những sách lược uyển chuyển và
quan trọng nhất là
“liên hợp giữa chính sách đấu tranh hợp pháp và đấu
tranh bằng thủ đoạn đen tối phi pháp cũng như phải liên kết đấu tranh bằng chính
trị và quân sự.”
Năm 1962 một sự kiện thay đổi lớn giữa sư nhúng tay của Hoa Kỳ và thái độ cũng
như hành động của Trung Quốc đối với cuộc nội chiến của Việt Nam. Vào
tháng 2, Hoa Thịnh Đốn (Washington) thành lập tại Sài G̣n một ban Quân Mưu
(Military Assistance Command, Vietnam (MAC,V)), để thay thế MAAG. Chính Phủ
Kennedy buộc ghép ban hành hành động này với số tăng trưởng mạnh về mặt Cố Vấn
Hoa Kỳ và số lượng quân sự tiếp viện với chính phủ Diệm, đánh dấu cho một tầng
lớp mới về mật tham dự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Vào mùa Xuân năm đó, một cuộc tranh luận xảy ra trong nội bộ ban lănh đăo Trung
Quốc phán đoán một Thế Chiến sẽ xảy ra, và dự định có thể hoà b́nh sống với
những quốc gia tư bản, và mức độ tài trợ của TrungQuôc đối với “công cuộc
Giải Phóng”. Vào ngày 27 tháng 2, Wang Jiaxiang, Bộ Trưởng Bộ Liên Lạc Ngoại
Giao, gửi một lá thư cho Chu Ân Lai, Đặng tiểu B́nh và Chen Yi ( bộ 3 cầm quyền
về chích sách ngoại giao), phản đối và chỉ trich khuynh hướng đánh giá cao về
mặt nguy cơ Thế Chiến xảy ra, và đă đánh giá thấp về những cơ hội hoà b́nh chung
sống với những đế quốc. Về mặt yểm trợ cho “công cuộc giải phóng toàn quốc”,
Wang đă thận trọng thận trọng nhấn mạnh, kêu gọi sự chú ư đến những vấn nạn kinh
tế của Trung Quốc và hạn hẹp tài nguyên. Về vần đề của Việt Nam, Wang yêu cầu
Đảng CS Trung Quốc "cảnh giác đối với những đường lối chiến tranh của Đế Quốc
Mỹ đă thực thi ở Đại Hàn" và cũng cảnh báo về nguy cơ "Khrushchev và
những người cùng phe đang kéo chúng vào một cạm bẫy chiến tranh." Wang đưa
ra dự án, nếu muốn chỉnh đốn và tái tạo lại nền kinh tế và thắng lợi vượt qua
những sóng gió giai đoạn khó khăn, Trung Quốc nên chấp nhận một chính sách
hoà b́nh và và thoả hiệp về mặt ngoại giao, và với lănh vực ngoại vận Trung Quốc
không nên làm những ǵ không có khả năng. Nhưng Mao Trạch Đông đă bỏ ngoài
tai những ư kiến và dự án nêu ra của Wang, thậm chí c̣n phán tội danh cho Wang
là kẻ nâng cao
“chủ nghĩa xét lại” chính sách ngoại giao của “3 điều thoả mản
và một sự giảm bớt” (sự thoả mản với đế quốc, chủ nghĩa xét lại, và thế
giới bảo thủ hoá , và giảm bớt sự yểm trợ cho công cuộc Giải Phóng Toàn Quốc.)
Sự biến diễn của cuộc tranh luận đă tạo ra những quyết định chính cho những
chính sách của CSTQ đối với Việt. Nếu như ư kiến của Wang được chấp nhận, th́ nó
sẽ có nghĩa là vai tṛ của CSTQ đối với Đông Nam Á phải bị hạn chế. Nhưng Mao
Trạch Đông đă quay sang con đường quân sự, chọn lựa đối mặt với Hoa Kỳ. Sự việc
này đă chuyển sang bên trái của những chính sách ngoại giao, với sự nhấn mạnh
của Mao trạch Đông về tranh đấu giai cấp và chính sách cấp tiến trong sự liên hệ
nội bộ Trung Quốc 1962. Sự việc này cũng ảnh hưởng đến vai tṛ của CSTQ đối với
những vấn nạn chưa dàn xếp nơi Việt Nam. Với sự
bỏ ngoài tai ư kiến của Wang, một cơ hội đă trồi lên sau này cho Hoa Kỳ len lơi
vào Đông Nam Á đă bị hụt.
Vào mùa Hạ 1962, Hồ Chí Minh và Nguyễn Chí Thanh đến Bắc Kinh để bàn thảo với
ban lănh đạo CSTQ về t́nh trạng quan trọng do sự nhúng tay của Hoa Kỳ với Việt
Nam và có thể Hoa Kỳ sẽ có một cuộc tấn công Bắc Việt Nam. Hồ Chí Minh “xin” CSTQ tài trợ cho công cuộc du kích tại miền Nam. Bắc
Kinh đă thoả mán sự “xin cầu” của Hồ Chí Minh bằng cách đồng ư gửi cho CSVN
90,000 cây súng trường và súng máy (AK), số lượng này có thể trang bị cho 230 bộ
binh tác chiến hat could equip 230 infantry battalions. Những vũ khí này sẽ được
dùng để yểm trợ mặt trận du kích tại miền Nam. Vào tháng3,1963, Luu Thieu Ky, Bộ
Trưởng Dân Nhân Giải Phóng Quân của Trung Hoa (Chief of Staff of the Chinese
People's Liberation Army (PLA)), ghé thăm CSVN và bàn luận với CSVN, CSTQ sẽ yểm
trợ cho CSVN bằng cách nào nếu Hoa Kỳ tấn công miền Bắc. Hai tháng sau, Lưu
thiếu Kỳ, chủ tịch của PRC, đến Hà Nội, và nói với Hồ Chí Minh:
“Chúng tôi
luôn sát cánh bên đồng chí, và nếu như chiến tranh bùng nổ, đồng chí có thể nh́n
Trung Hoa như là một cánh tay.”
Sự thật th́, Bắc Kinh đă sớm chính thức kư kết với Hà Nội vào đầu năm 1963. Đến cuối năm đó, cán bộ của CSTQ và CSVN đă bàn thảo về sự viện trợ giúp đỡ của Bắc Kinh về dự án xây dựng những công tŕnh pḥng chiến và căn cứ Hải Quân ở vùng Đông Bắc lănh thổ CSVN. Theo tài liệu từ Trung Hoa, vào năm 1963 CSTQ và CSVN đă ngầm kư kết hiệp định là Bắc Kinh sẽ gửi quân tác chiến vào Bắc Việt Nam khi cần. Quân đội CSTQ sẽ ở lại và chiến đấu tại miền Bắc để đoàn quân VC được rănh tay xuống miền Nam. Nhưng ngày giờ và điều kiện trong bản hiệp địh tới nay vẫn không rơ ràng.
Tổng kết, trong giai đoạn từ 1954 và 1963 Trung Quốc đă và luôn chặt chẻ tham
dự vào trong những sự phát triển và quyết định của nền tảng chính trị Hà Nội.
Đảng CS Trung Quốc “yêu cầu” Hồ Chí Minh phải chú tâm vào củng cố Đảng
CSVN và liên kết sách lược đấu tranh bằng chính trị và quân sự đối với miền Nam
VN.. Trong những năm từ
1956 và 1963,
CSQT đă tiếp trợ cho CSVN 270,000 cây súng, trên 10,000 đại pháo , trên 200
triệu đạn dược, 2.02 triệu Trái Pháo , 15,000 dây truyền tin, 5,000 radio thông
tin, trên 1,000 xe vận tải, 15 chiếc máy bay, 28 tàu chiến, và 1.18 triệu quân
phục.
Tổng số viện trợ từ CSTQ đối với CSVN trong thời gian này là hơn 320 triệu
nhân dân tệ. Năm 1962 là một năm chủ yếu của những sự quyết định
của những hành động cũng như thái độ của Trung Quốc đối với Việt Nam.
Bỏ rơi dự án tiến tới trong thận trọng, Mao Trạch Đông đă chọn con đường đối đầu
với Hoa Kỳ và quyết định đẩy mạnh sự tài trợ cần thiết từ Trung Quốc đến Hà Nội.
Số lượng lớn viện trợ vũ khí từ Bắc Kinh đến với CSVN vào năm 1962 đă giúp đỡ Hồ
chí Minh đẩy mạnh mặt trận du kích trong miền Nam, và đă khơi dậy thêm sự nhúng
tay của Hoa Kỳ. Vào cuối năm 1963, ban lănh đạo Trung Quốc rất là bất an về sự
quyết định của Hoa Kỳ đối với Việt Nam
tuy nhiên CSTQ vẫn luôn yểm trợ và tài trợ tối đa cho CSVN đối mặt với Hoa Kỳ.
xxx
Tài Liệu Tham Khảo
1)Qiang Zhai,1995,
BEIJING AND THE VIETNAM
CONFLICT, 1964-1965:NEW CHINESE EVIDENCE, COLD WAR INTERNATIONAL HISTORY PROJECT
BULLETIN, trang 232-250
nguồn
http://books.google.com.au/books?id=qlNqWJMN_pcC&pg=PA233&lpg=PA233&dq=
hay http://www.wilsoncenter.org/topics/pubs/ACF1AC.pdf (233-248)
2) Tài Liệu từ Trung Quốc, Chen Jian's "Sự Tham Chiến của Trung Quốc trong Chiến Tranh VN, 1964-69," Sự Trung Kết của Trung Hoa 142 (June 1995), 357-387, đă đưa rơ tất cả sự thật tài liệu và những cái nh́n bên trong về vai tṛ của Trung Quốc cũng như những quyết định của Trung Quốc đă giúp Hà Nội trong chiến tranh VN.
3) Qiang Zhai, "Transplanting the Chinese Model: Trung Hoa Cố Vấn Quân Sự và và Đệ Nhất chiến tranh VM, 1950-1954," Nhật Kư của Quân Sự Sử Lược 57 (October 1993), 698-715; idem., "Trung Quốc và Hội Nghị Geneva 1954," Phần Tư Trung Hoa 129 (March 1992), 103-122; Chen Jian, "Trung Hoa và Đệ Nhất Chiến Tranh Đông Nam Á, 1950-1954," Phần Tư Trung Hoa” 133 (March 1993), 85-110.
|
[ Trang Đầu ]-[ Thời Sự VN ]-[ Kinh Tế VN ]-[ B́nh Luận ]-[ Văn Học & Lịch Sử ]-[ Vườn Thơ ]-[ T́m Bài Cũ ]-[ E-mail ]-[ Đi Ra ] |