Mục Lục

 

45 NĂM XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XĂ HỘI,

 ĐẢNG CSVN ĐĂ TẠO NÊN NHỮNG HẬU QUẢ G̀ CHO TƯƠNG LAI CỦA DÂN TỘC?

Lê Tùng Minh


 

Ngày 3 tháng 2 năm 2006 – kỷ niệm lần thứ 76 ngày thành lập Đảng CSVN, Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa IX (2001-2006) đă quyết định cho công bố trên báo chí, khắp trong cả nước, toàn văn bản “Dự thảo báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng”, với đầu đề thật kêu, rằng:

 

“Nâng cao năng lực lănh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi t́nh trạng kém phát triển”,

 

để cho toàn Đảng, toàn Quân và toàn Dân đóng góp ư kiến.

 

Trong “Phần II” của bản “Dự Thảo Báo Cáo Chính Trị” có đánh giá về kết quả xây dựng CNXH ở Việt Nam như sau:

 

“...con đường đi lên chủ nghĩa vă hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam...con đường đi lên chủ nghĩa xă hội ở Việt Nam đă h́nh thành trên những nét cơ bản. Xă hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xă hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh...”

 

Những lời đánh giá trên đây có đúng hay không? Chúng tôi trưng những bằng chứng lịch sử điển h́nh, trong 45 năm (1960-2005) xây dựng CNXH, do Đảng CSVN độc quyền lănh đạo, để cho toàn dân Việt Nam thấy rơ đâu là sự thật!

 

I.- 15 năm xây dựng CNXH miền Bắc. (1960 – 1975)

 

Cách nay 46 năm, vào ngày 5 tháng 9 năm 1960, Đảng CSVN (lúc đó lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam) mở Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ III, tại Hànội, để quyết định đường lối “xây dựng chủ nghĩa xă hội ở miền Bắc và đấu tranh ḥa b́nh thống nhất nước nhà” (Tuyên bố của ông Hổ Chí Minh - Chủ tịch Đảng LĐVN, trong “Lời Khai Mạc” Đại hội).

 

Và trong “Báo cáo Chính trị” (do Lê Duẩn, Ủy viên BCT, đọc tại Đại hội) đă nói rơ về công cuộc xây dựng CNXH miền Bắc như sau:

 

“Đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xă hội là đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xă hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xă hội...”

“Muốn đạt mục tiêu ấy, phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản...”(Theo “Lịch sử Đảng CSVN” Tập I (1954-1975) nxb Chính trị Quốc gia, Hànội, 1990, trang 137)

 

Chính v́ cái mục tiêu “sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản”, đă khiến cho nhân dân miền Bắc, phải chịu biết bao khổ đau trong cảnh sống mất hết quyền tự do và quyền sống của con người, với sự nghèo nàn và lạc hậu đến tận cùng, suốt trong 15 năm xây dựng chủ nghĩa xă hội (1960-1975)

 

Để tạo dựng nền tảng vật chất và tinh thần cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, Đảng LĐVN đă tiến hành công cuộc gọi là cải tạo XHCN (!), trong khi hồ sơ tội ác của công cuộc Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ vừa mới được sửa sai (sau tháng 4-1956 đến đầu năm1958), mà theo sự kiểm điểm của Trung ương Đảng LĐVN, th́ CCRĐ đă phạm sai lầm là v́ “Không nắm vững sự biến đổi ở nông thôn miền Bắc từ sau Cách Mạng Tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, dập khuôn một cách máy móc theo kinh nghiệm nước ngoài.” (Lịch sử ĐCSVN, sđd, trang 70). Rơ ràng là ngụy biện, đổ lỗi cho khách quan, không dám nh́n thẳng vào sự thật là cam tâm nghe theo chỉ thị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc!

 

Trong thời gian sửa sai CCRĐ cũng là thời gian Đảng cầm quyền thi hành chính sách Trấn Áp, Khủng bố Trí thức và Văn Nghệ sĩ Phản kháng, mà trong lịch sử hiện đại Việt Nam đă gọi là “Vụ án Nhân Văn Giai Phẩm”. (Xem chi tiết trong bài “Có nên xóa bỏ ranh ǵới Quốc-Cộng hay không?” của Lê Tùng Minh, Tạp chí Cách mạng số 36, tháng 10-2003, mục Thời kỳ 1955-1964, phần A) Hiến Pháp 1956 cỉa nước VNDCCH, đă được sửa đổi và Chủ tịch Hồ Chí Minh đă công bố vào ngày 1-1-1960, về quyền Tự do của công dân, có đoạn rằng:

 

“công dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa có quyền làm việc, có quyền nghỉ ngơi, có quyền học tập, có quyền tự do thân thể, có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu t́nh, có quyền tự do tín ngưỡng...” (Lịch sử ĐCSVN, sđd, trang 125-126).

 

Rơ ràng, Đảng LĐVN và Nhà nước VNDCCH, đă vi phạm Hiến Pháp, vi phạm nhân quyền rất nghiêm trọng, khi họ tiến hành trấn áp, khủng bố trí thức và văn nghệ sĩ, trong cái gọi là “vụ án Nhân Văn Giai Phẩm”!

 

Sửa sai CCRĐ chưa đến đâu, th́ vào cuối năm 1958, tội ác của Đảng LĐVN lại chồng chất thêm lên, trong việc thực hiện chính sách Cải Tạo XHCN. Theo quyết định của cuộc Hội nghị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (khóa II), vào tháng 11-1958, th́ phải hoàn thành căn bản công cuộc cải tạo XHCN trong ṿng 3 năm (1958-1960). Cụ thể là:“cải tạo XHCN đối với kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh.” (Lịch sử ĐCSVN, sđd, trang 119).

 

Những ai đă sống ở nông thôn miền Bắc trong 3 năm cải tạo XHCN này, không thể nào quên cái cảnh: nông dân cá thể bị dồn ép vào Hợp Tác Xă Nông Nghiệp (HTXNN) theo phương thức “Úp Bộ” (miệng th́ nói “giữ đúng nguyên tắc tự nguyện, nhưng khi thực hiện th́ bắt ép, khống chế đủ cách, không vô HTXNN th́ sẽ không có chỗ đứng ở nông thôn, nhất là hai thành phần Trung và Phú nông!). Trong 3 năm gọi là “phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trên toàn miền Bắc” đó, đă có biết bao nhiêu biến cố ở nông thôn, tuy không đổ màu, nhưng nước mắt th́ tràn đầy, v́ đương nhiên phải giao ruộng, giao trâu ḅ và các công cụ sản xuất cho Hợp Tác Xă (HTX). Thế là tài sản cá thể đă biến thành tài sản tập thể (đến hết năm 1960, 84,8% tổng số nông hộ và đă chiếm đến 76% diện tích canh tác trên toàn miền Bắc, đă bị gom vào HTXNN - Lịch sử ĐCSVN, sđd, trang127).

 

Thảm thương thay! Nông thôn vui vẻ, sinh động đầy sức sống ngày trước, mau chóng biến thành nông thôn buồn bă, uể oải, thiếu sinh khí... và bao người đành phải bỏ xóm làng, ra đi lang thang khắp nơi trên miền Bắc nghèo nàn, để kiếm sống qua ngày!

 

Những ai đă sống ở các thành phố lớn của miền Bắc, như Hà nội, Hải pḥng, Nam định và Vinh...trong thời gian cải tạo XHCN, th́ không thể không thừa nhận một sự thật quá chán ngán, ê chề đến đau ḷng, trước cảnh “nhà tan, cửa nát, gia đ́nh ly tán” trong ḥa b́nh, v́ họ là đối tượng cải tạo XHCN - Tiểu thương, Tiểu chủ, Tư sản dân tộc, Tư sản mại bản! Nghĩa là, những người có của chút ít đến giàu có đều bị cải tạo, để trở thành vô sản - thành phần căn bản của CNXH (!?) Thủ đô Hà nội là thành phố điển h́nh, thi hành triệt để chính sách cải tạo XHCN:

 

- Các tiệm, cửa hàng, sạp buôn bán nhỏ và ăn uống, đều bị gom vào cái gọi là Hợp Tác Xả Mua Bán, Tổ Mua Bán, Đại Lư cho Thương Nghiệp Quốc Doanh (Đến cuối năm 1960, 60% hộ tiểu thương trên miền Bắc đă bị cải tạo XHCN, và 10.000 người buôn bán nhỏ đă bị bắt buộc chuyển đi lao động sản xuất - Lịch sử ĐCSVN, sđd, trang 128)

 

- Các chủ nhà máy, xí nghiêp tư bản tư doanh, các nhà tư sản thương nghiệp, đều bị tịch thu tài sản, gom lại để thành lập các tổ chức kinh tế XHCN, được gọi là Xí nghiệp Công tư Hợp doanh, Xí nghiệp Hợp tác mà thực chất là quốc doanh, và các chủ tư sản đều trở thành người làm công (Đên tháng 9-1960, 100% cơ sở công nghiệp cũng như thương nghiệp tư bản tư doanh đều bị ‘Quốc doanh hóa’, 1.553 chủ tư sản trên miền Bắc đă bị đưa đi lao động cải tạo ở các lâm trường, nông trường hay đi khu kinh tế mới tận trên miền thượng du – sđd, như trên, trang 128).

 

Bộ mặt của Hà thành đă hoàn toàn đổi khác! Chỉ có những người sống ở Hànội, qua vài thời kỳ, trước và sau tháng 7-1954 (thời điểm kư kết Hiệp nghị Genève 1954) th́ mới thấy rơ sự thay đổi về chất của một thủ đô, nguyên là một chốn phồn hoa đô hội chuyển thành một thành phố quốc doanh tổng hợp.V́ rằng, các tiệm buôn, các cửa hàng ăn uống, các cơ sở dịch vụ đều treo bảng Quốc Doanh, hay Công Ty Hợp Doanh, hoặc Hợp Tác Xă Mua Bán...Hànội không c̣n thấy những cô nữ sinh mặc áo dài tha thướt, đủ màu sắc tươi mát, dịu dàng; thay vào đó những chiếc áo cánh, chỉ có màu xanh hay trắng, đơn điệu, khô khan...Hànội buồn như mới đưa người thân về cơi bên kia! Hànội gượng cười chạy đua trong cuộc thi xây dựng CNXH, theo lời động viên, kêu gọi của ông Hồ rằng:

 

“Mười lăm năm trước đây, chỉ có 5.000 đảng viên và trong những điều kiện cực kỳ khó khăn mà Đảng ta đă lănh đạo Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi. (Lẽ đương nhiên, ông Hồ không bao giờ nói đến sự cướp công của các Đảng phái khác – LTM) Ngày nay, Đảng ta có hơn 50 vạn đồng chí, lại có những điều kiện rất thuận lợi, cho nên Đảng nhất định lănh đạo cách mạng xă hội chủ nghĩa đến thành công...” (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Sự Thật, Hànội, 1986, tập 8, trang 777).

 

Vậy, suốt 15 năm, từ 1960 đến 1975, công cuộc xây dựng CNXH miền Bắc, do Đảng LĐVN độc quyền lănh đạo, đă đạt được những thành tựu ǵ?

 

Có thể khái quát rằng: Kết quả của công cuộc vây dựng XHCN miền Bắc, thực tế có mấy diểm nổi bật sau đây:

 

1/- Đời sống vật chất của Nhân Dân và Cán Bộ đều lệ thuộc vào “chế độ tem phiếu”!

 

Các loại hàng hóa cung cấp cho đời sống b́nh thường của con người, như: gạo, bột ḿ, sữa, đường, muối, nước mắm, thịt, cá, đậu hũ...đến vải vóc, quần áo, mùng mền... đều phải có Tem Phiếu, do cơ quan đặc trách về lương thực của Nhà nước cấp phát, th́ mới mua được! Nhưng, không phải muốn mua bao nhiêu th́ mua.

 

Nhân dân có tiêu chuẩn của nhân dân; người lớn, mỗi tháng được mua 12 kg gạo, 300 gram thịt heo, ½ kg cá, 300 gram đường, 1 hộp sữa ḅ... Trẻ em 15 tuổi trở xuống th́ một tháng được mua 10 kg gạo, 200 gram thịt heo, 300 gram cá, 200 gram đường, 1 hộp sửa...Nh́n chung, tiêu chuẩn của người dân thường là thấp nhất. Trẻ em ăn uống theo tiêu chuẩn quá thấp như trên nên suy dinh dưỡng là chuyện tất nhiên!

 

Cán bộ có tiêu chuẩn của cán bộ (chia ra làm 4 loai: Cơ sở, Sơ cấp, Trung cấp, Cao cấp) – Cán bộ Cơ sở và Sơ cấp th́ mua tại các cửa hàng cung cấp cho nhân dân. Cán bộ Trung cấp th́ mua chung với cán bộ Cao cấp, tại một cửa hàng đặc biệt, nhưng tiêu chuẩn khác nhau. Cán bộ Cơ sở (bậc lương từ khởi điểm đến cán sự 1) và cán bộ Sơ cấp (bậc lương từ cán sự 2 đến cán sự 4) hưởng tiêu chuẩn thấp nhất: Một tháng được mua 13 kg gạo, 1 kg thịt heo, 2 kg cá, 1 kg đường, 2 hộp sữa.... - Cán bộ Trung cấp (bậc lương từ Cán sự 5 đến chuyên viên 1) đươc hưởng theo tiêu chuẩn: Một tháng 13 kg gạo, 3 kg thịt heo, 5 kg cá, 3 kg đường, 3 hộp sữa, 1 hộp bơ, 2 gói thuốc lá ngoại... - Cán bộ Cao cấp (bậc lương từ Chuyên viên 2 đến chuyên viên 9, các chủ tịch UBND tỉnh, các Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy, các Bộ trưởng, Thứ trưởng, Vụ trưởng. Và các ủy viên trung ương Đảng) được hưởng: 15 kg gạo Tám thơm, 5-7 kg thịt heo, 10-12 kg cá, 5kg đường, 5-7 hộp sữa, 3 hộp bơ, 2 chai rượu ngoại quốc, 1-2 cây thuốc lá ngoại...(chưa kể những món hàng đặc biệt?)

 

Do đó, tem phiếu đă trở thành hàng hóa. Nó có mặt ở “chợ đen”, và cán bộ ngành lương thực các cấp, từ Huyện đến Trung ương, đă kiêm luôn những kẻ buôn lậu tem phiếu. Nền kinh tế tem phiếu đă làm khổ cho người dân: Xếp hàng xin tem phiếu (ai có hộ khẩu chính thức mới được cấp phát tem phiếu). Xếp hàng mua gạo, mua thực phẩm...Xếp hàng đi liền với chờ đợi và phải chịu làm kẻ thấp hèn, năn nỉ, xin xỏ các ông, các bà bán hàng, may ra mới mua được gạo tốt, thực phẩm tươi (!) Cho nên, chế độ tem phiếu đă nâng cao giá trị người bán hàng, và hạ thấp giá trị người mua hàng, là một thay đổi lớn trong quan hệ giữa người bán và người mua. Thay v́ người bán phải ch́u chộng người mua, nhưng bấy giờ người mua phải cầu cạnh người bán hàng. Thật là ngược đời! Có người nói mỉa mai rằng: “Đây là thời kỳ lên ngôi của những kẻ nắm quyền phân phối và cung cấp lương thực thực phẩm!”

 

2/- Một điểm nổi bật khác của xă hội XHCN miền Bắc trong giai đoạn 1961-1965 là “phồn vinh giả tạo”

 

Sự phồn vinh giả tạo của xă hội XHCN miền Bắc thật đa dạng. Sau đây, chỉ nêu ra một số mặt điển h́nh, để chứng minh cái gọi là “ưu việt” của xă hội XHCN miền Bắc

 

- Về sự “phồn vinh trong tủ kính”:

 

Ở các thành phố, thị xă lớn như: Hà nội, Hải pḥng, Nam định, Thanh hóa, Vinh...trong tủ kính của các trọng điểm Thương Nghiệp Quốc Doanh (Bách Hóa Tổng Hợp), có bày đầy đủ các mặt hàng của ngoại quốc (chủ yếu là hàng của Liên Xô và Trung Quốc). Nhưng, chỉ để trưng bày cho đẹp mắt, chớ không có bán. Khi khách hàng hỏi mua, th́ nhân viên bán hàng nói khéo rằng:

 

“Hàng vừa mới bán hết. Xin quư khách cảm phiền đợi đợt hàng mới về... sẽ đến mua.”

 

Những người khách nào tin, tháng sau trở lại hỏi, th́ cũng được trả lời y như vậy (?) Tuy nhiên, nếu biết đường dây chợ đen và đồng ư mua với giá cắt cổ (giá gấp đôi hay gấp ba) th́ lúc nào cũng có!

 

- Về sự “phồn vinh tại chợ trời”:

 

Chợ trời, đúng ra là “Chợ của Dân Nghèo”. Người nghèo, có ít tiền nên mới đến Chợ Trời để t́m mua đồ rẻ. Người nghèo túng tiền, mới mang đồ tốt ở trong nhà ra chợ trời để bán rẻ, kiếm chút ít tiền để mua những thứ khác, mà họ đang cần! Thế nhưng, “chợ trời XHCN” không hoàn toàn là của người nghèo, mà là của nhiều thành phần hỗn tạp! Dân mánh mung, bọn buôn lậu, giới mua gian bán lận, những tên c̣ mồi (hàng hóa lẫn gái nhảy dù)...Tại chợ trời, có đủ các loại hàng hóa - thượng vàng hạ cám.

 

Đặc biệt, nếu ai đến các cửa hàng Thương nghiệp Quốc doanh, thấy có hàng trưng bày trong tủ kính, mà không mua được, th́ cứ ra Chợ Trời, và chịu mua với giá cắt cổ th́ có ngay! Những thứ hàng không có bày bán ở các cửa hàng Thương nghiệp Quốc doanh, th́ cứ đến Chợ Trời t́m mua, với giá tự do theo kiểu “bán trời không mời thiên lôi”...th́ thế nào cũng có!

 

- Về sự “phồn vinh ở các quán chui”:

 

Các cửa hàng ăn uống của quốc doanh, đều trương bảng đỏ chữ vàng rất to, nhưng món ăn thức uống th́ chỉ đói mới ráng ăn, khát mới cố uống; bởi v́ “nói thật th́ mếch ḷng” – Món ăn phổ biến là “Ḿ không người lái”, tức là ḿ không có thịt. C̣n thức uống, thông dụng là “cà phê kho”, nghĩa là cà phê loảng, chỉ có màu, không có mùi thơm của cà phê nguyên chất. Bởi vậy, khách muốn ăn uống cho ngon miệng, th́ không ai muốn vào cửa hàng ăn uống quốc doanh!

 

Các khách ăn sành điệu đều đi t́m các “quán ăn uống chui”, gọi tắt là “quán chui” (cà phê chui, phở chui, cơm chui, rượu chui...). Gọi là “Quán Chui”, bởi v́ các quán ăn uống đó không có treo bảng hiệu, không mở cửa mặt tiền, mà khách phải chui vào cửa sau. Nhưng, các quán chui, không cần người canh gát đề pḥng ‘công an kinh tế’, vẫn bán từ sáng đến khuya, bởi v́ đă có “đóng hụi” cho nhà chức trách địa phương!

 

Các quán ăn uống chui lúc nào cũng đông khách, v́ những lư do như sau: Món ăn, thức uống ngon, hợp khẩu vị, giá lại rẻ, chỉ cao hơn giá của các cửa hàng quốc doanh một ít (10%-12%) - Phục vụ đúng là “Vui ḷng khách đến, Vừa ḷng khách đi!”, tuy họ không viết thành khẩu hiệu, treo ngay trên tường, như ở các cửa hàng quốc doanh. V́ vậy, có người nói: Khẩu hiệu ở các cửa hàng quốc doanh cần sửa lại là: Buồn ḷng khách đnế, Phiền ḷng khách đi!

 

3/- Chủ trương “xóa bỏ giai cấp” nhưng triệt để thi hành “chủ nghĩa thành phần”, và áp dụng “sự phân biệt đẳng cấp”!

 

- Về cái gọi là “xóa bỏ giai cấp”:

 

Tiến hành CCRĐ là nhằm mục đích: Tiêu diệt giai cấp Địa chủ, cải tạo Phú nông, lôi kéo Trung nông, xác lập quyền làm chủ nông thôn của Bần-Cố nông!

 

Cải tạo Công-Thương nghiệp Tư bản tư doanh là nhằm mục đích: Xóa bỏ giai cấp Tư sản, cải tạo tầng lớp Tiểu chủ - giới Tiểu thương, xác lập quyền làm chủ của công nhân-lao động!

 

C̣n đối với các giới: Trí thức cũ (được đào tạo trong thời Pháp thuộc, hay ở các nước Tư bản), Tiểu tư sản...th́ thông qua lao động XHCN, để cải tạo tư tưởng; đồng áp dụng phương sách chỉnh huấn chính trị để buộc họ đầu hàng giai cấp công nhân, trong cái gọi là “chính sách Công nhân hóa trí thức, lao động hóa Tiểu tư sản.”

 

Mưu đồ của chung Đảng CSVN trong việc xóa bỏ giai cấp là để tạo ra một xă hội chỉ có hai thành phần: Nhân dân Lao động làm nhiệm vụ sản xuất ra của cải vật chất để nuôi dưỡng toàn xă hội; và Đảng Cộng sản giữ vai tṛ lănh đạo, điều hành chính quyền, cai quản xă hội XHCN - với chiêu bài xây dựng một xă hội “không có người bóc lột người”. Nhưng thực chất th́ Đảng CSVN là thành phần bóc lột, vừa là “Địa chủ đỏ” ở nông thôn, vừa là “Tư bản đỏ” ở thành thị. C̣n toàn thể Nhân dân Lao động là thành phần bị bóc lột, là “nô lệ” trong xă hội XHCN!

 

- Về việc thi hành “chủ nghĩa thành phần”:

 

Có thể nói: Chủ nghĩa thành phần là một quan điểm căn bản trong công tác tổ chức của Đảng CSVN, mà tổ chức là nền tảng cơ bản của chuyên chính vô sản! V́ vậy, xét về ư nghĩa “bố trí nhân sự lănh đạo”, th́: “chủ nghĩa thành phần” là một công cụ trọng yếu của chuyên chính vô sản!

 

Trước tiên, phải nói đến hàng ngũ cán bộ lănh đạo tổ chức các cấp, từ địa phương đến trung ương, của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Mặt trận, đều chọn những đảng viên xuất thân từ thành phần cốt cán, cho dù họ vô tài, thiếu đức, không có tŕnh độ văn hóa, cũng không hề ǵ, chỉ cần họ tuyệt đối trung thành, chấp hành triệt để đường lối chính sách cán bộ của Đảng. Cụ thể là tuyệt đối chấp hành chỉ thị của ông Ủy viên Bộ Chính trị đặc trách Trưởng Ban Tổ chức Trung Ương (Lê Đức Thọ, có biệt danh là Sáu Búa). Chính chất lượng cán bộ lănh đạo tổ chức như vậy, nên “chủ nghĩa thành phần’ càng được áp dụng triệt để trong việc tuyển lựa nhân sự cho Đảng, Nhà nước, Quân đội và Mặt trận!

 

Kế tiếp, là sự áp đụng chủ nghĩa thành phần trong việc đào tạo nhân tài cho xă hội XHCN miền Bắc (và cho nước Việt Nam thống nhất sau này). Từ sau khi tiếp quản xong toàn bô miền Bắc (tờ vĩ tuyến 17 trở ra), Nhà nước Cộng sản đă bắt tay vào công việc đào tạo tầng lớp trí thức mới (trí thức XHCN), bằng hai con đường: Đào tạo ở trong nước và cho đi du học (hay thực tập) ở các nước XHCN (chủ yếu là Liên Xô và Trung quốc).

 

Những người được tuyển chọn đi du học (hay thực tập) phải là Đảng viên hoặc là Đoàn viên thuộc diện cảm t́nh Đảng (đang được bồi dưỡng để kết nạp vào Đảng). Là Đảng viên hay Đoàn viên cũng chưa đủ tiêu chuẩn, mà c̣n phải là thành phần cơ bản nửa (công nhân, dân nghèo thành thị, bần-cố nông, con hay cháu ruột của những cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước).

 

Đào tạo ở trong nước th́ rộng răi hơn. Mọi công dân đủ tiêu chuẩn về giới hạn tuổi và tŕnh độ văn hóa (theo quy chế tuyển sinh từng trường Đại học (hay Trung cấp) đều được dự kỳ thi tuyển. Nhưng, khi chấm đậu cho mỗi thí sinh, ngoài bài thi đủ điểm ra, c̣n phải xét tiêu chuẩn “lư lịch trong sạch” nữa, rồi mới có quyết định chính thức - đậu hay rớt! Thế nào là lư lịch trong sạch? Theo quy định của Ban Tổ chức Trung ương là: “Lư lịch trong sạch là lư không có quan hệ với giai cấp địa chủ, với giai cấp tư sản, với các Đảng phái phản động, với tay sai của Pháp, và với những thành phần bất hảo trong xă hộ ...” (Theo Chỉ thị số 013/BTC-TW, ngày 12-6-1958). Do đó, có những thí sinh đỗ rất cao, nhưng bị đánh rớt, bởi v́ các cô, các cậu đó là con hay cháu của các “thành phần không trong sạch”, như Ban Tổ chức trung ương Đảng đă qui định(!?).

 

C̣n đối với thành phần cơ bản, cũng như Đảng viên, Đoàn viên, th́ có cho “điểm ưu tiên”, nghĩa là thiếu số điểm trong giới hạn nào đó, cũng xét cho đậu. Trong thời gian học tập, chính số sinh viên thuộc thành phần cốt cán này, được Tổ chức của nhà trường chỉ định giữ những chức trách lănh đạo sinh viên trong lớp, mặc dù học lực của họ kém hơn nhiều sinh viên khác. Bao nhiêu tài năng trẻ, xuất thân từ những thành phần “không căn bản”, đặc biệt là con cháu của Địa chủ, Tư sản, những người có quan hệ với chế độ cũ, và các Đảng phái chống cộng, đều bị loại ra khỏi các trường Đại học, bắt buộc họ đi lao động ở các nông trường, lâm trường ở chốn rừng thiêng nước độc (!)

 

Chính sách “chủ nghĩa thành phần” đă thống trị cả nền học vấn của miền Bắc XHCN! Bởi v́ những trí thức, học giả có tài năng như: Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, Giáo sư Trần Đức Thảo, Học giả - nhà sử học Đào Duy Anh, Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Phạm Huy Thông... lần lượt bị đẩy ra khỏi bục giảng Đại học! Thay vào đó, Đảng đă chọn những “trí thức mới” xuất thân từ thành phần căn bản, được đào tạo ở Liên Xô, Trung quốc... hay đào tạo ở trong nước, dù kém tài nhưng tuyệt đối trung thành với Đảng - tức là đạt tiêu chuẩn Hồng hơn Chuyên” - đứng trên các bục giảng của các trường Đại học miền Bắc XHCN (các đại học như: Tổng Hợp, Sư Phạm, Y Dược, Bách Khoa, Kinh Tế, Nông Nghiệp, Kiến Trúc, Giao Thông...) để đào tạo nhân tài cho dân tộc (!) Đó là chưa kể một đội ngũ “Giảng viên Chính trị”, gồm có các môn: Triết học Marx-Lénine, Kinh tế-Chính tri Marx-Lénine, và Chủ nghĩa Xă hội Khoa học (tức là Lịch sử Phong trào Cộng sản Quốc tế và Lịch sử Đảng CSVN) - đều được tuyển chọn từ những Đảng viên làm công tác chính trị trong quân đội (hay công tác tuyên huấn ở các cơ quan Đảng và Mặt trận). Tŕnh độ văn hóa của số Đảng viên này, đa số là mới học xong cấp I, và một số ít học hết cấp II, rất hiếm có người đă học xong cấp III. Để trở thành “Giảng viên Chính trị”, Đảng cho họ đi học khóa 6 tháng ở trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, rồi cử về dậy chính trị ở các trường Đại học. Môn Chính trị Marx-Lénine vốn đă lạc hậu với thời đại, lại do những “giảng viên chính trị” chỉ đạt tŕnh độ sơ cấp, lên đứng trên bục giảng Đại học làm chức năng “nhai lại” những ǵ đă viết trong sách giáo khoa, chẳng phải làm cho trí óc của sinh viên càng ngày càng teo lại hay sao? Thế mà, Bộ Giáo Dục miền Bắc (sau năm 1964 là Bộ Đại học) đă xem Chính trị Marx-Lénine là “Môn Thống Soái” – Nghĩa là sinh viên nào không đủ điểm về môn thống soái, th́ dù các môn khác đạt điểm cao vẫn không cho tốt nghiệp (!?)

 

- Về việc áp dụng “sự phân biệt đẳng cấp”:

 

Ngay trong chủ trương thi hành “chế độ tem phiếu”, ai củng thấy sự phân biệt đẳng cấp trong hàng ngũ những người được ông Hồ Chí Minh đặt cho cái tên rất ư là cách mạng: “Đày tớ của nhân dân” (?) Thật là xảo ngôn! Đày tớ của nhân dân – như mấy ông Trung ương Đảng - lại ở nhà cao cửa rộng, đi xe hơi, ăn ngon mặc đẹp hơn nhân dân gấp bao nhiêu lần vậy?

 

Trong hàng ngũ Đảng viên và Cán bộ của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Mặt trận trong xă hội XHCN miền Bắc, tựu trung là chia thành ba đẳng cấp:

 

Một: Cán bộ Sơ cấp (từ Cán sự 1 đến Cán sự 4, có tháng lương từ 45$ đến 75$ mỗi bậc cách nhau 10$). Trong quân đội th́ từ Hạ sĩ quan đến Trung úy – lương tương đương lương hệ Cán sự. Hạng này thuộc về đẳng cấp thấp nhất. Tuy tiền lương của họ khác nhau, nhưng hưởng chế độ tem phiếu ngang nhau, được nằm nhà thương để điều trị khi có bệnh cũng như nhau...cho đến “Học chỉnh huấn chính trị” cũng cùng học chung một giáo tŕnh!

 

Hai: Cán bộ Trung cấp (từ Cán sự 5 đến Chuyên viên 2, có tháng lương từ 85$ đến 115$, mỗi bậc cách nhau 10$) Trong quân đội từ cấp Thượng úy đến Trung tá, lương cũ tương đương với Cán bộ hệ Trung cấp).) Hàng Cán bộ này thuộc về đẳng cấp giữa. Tiền lương của đẳng cấp giữa này tuy khác nhau, nhưng chế độ tem phiếu th́ được hưởng ngang nhau. Chế độ điều trị, điều dưỡng cũng như nhau (nằm chung một bệnh viện với Cán bộ Cao cấp, nhưng lương tiêu chuẩn khác nhau). Cán bộ Trung cấp học chung với nhau một giáo tŕnh chỉnh huấn, nhưng khi Ban Tuyên Huấn trung ương thấy cần thiết, th́ họ cũng được học chung giáo tŕnh với Cán bộ Cao cấp.

 

Ba: Cán bộ Cao cấp (Về Đảng là toàn bộ ủy viên Trung ương Đảng, các Bí thư Tỉnh ủy. Về Nhà nước là từ hàng Vụ trưởng - Cục trưởng loại I đến Thứ trưởng, Bộ trưởng. Về chuyên viên là từ Chuyên viên 3 đến chuyên viên 9 - với tháng lương từ 125$ đến 185$ - mỗi bậc cách nhau 10$. Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ không thuộc tháng lương đó). Trong quân đội từ Thượng tá đến Đại tướng (tương đương Chuyên viên 3 đến chuyên viên 9, từ tháng lương 125$ đến 185$). Tuy tháng lương khác nhau, nhưng chế độ tem phiếu, tiêu chuẩn điều trị-điều dưỡng, về căn bản là giống nhau. Riêng Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội và Đại tướng Tổng Tư lệnh th́ có “Đặc Chuẩn” (tiêu chuẩn đặc biệt).

 

Sự phân biệt đẳng cấp trong chính sách điều trị bệnh nhân của miền Bắc XHCN, có thể nói là vi phạm nghiêm trọng đến quyền sống của con người!

 

Ở ngay thủ đô Hà nội, Bộ Y Tế có qui định rơ ràng: Bệnh viện Việt-Xô là nơi điều trị cho Cán bộ Trung-Cao cấp. C̣n bệnh viện Việt-Đức (tên cũ là Phủ Doăn) là nơi điều trị cho Cán bộ Sơ cấp. Bệnh viện Việt Xô có đầy đủ thuốc để trị các thứ bệnh hiểm nghèo! C̣n bệnh viện Việt Đức th́ không có đầy đủ thuốc để trị bệnh “thập tử nhất sanh” như bệnh viện Việt Xô! Do đó, mới xảy ra t́nh trạng cùng một loại bệnh nặng như nhau, nếu có tiêu chuẩn điều trị ở Việt Xô th́ sống; nhưng, chỉ có tiêu chuẩn điều trị ở Việt Đức th́ chết! Như vậy, cùng là một bệnh nhân trong cùng một chế độ XHCN, nhưng đẳng cấp khác nhau, th́ bệnh nhân đẳng cấp tấp đành phải chịu chết, c̣n bệnh nhân thuộc đẳng cấp cao th́ được cứu sống! Đây là một thực tế, sự thật 100%. Điển h́nh như hồi cuối năm 1964, ở bệnh viện Việt Đức có một bệnh nhân đau nặng, nằm chờ chết v́ không có thuốc để trị. Trong khi đó, ở bệnh viện Việt Xô có loại thuốc đó, nhưng ông Giám đốc bệnh viện Việt Xô nhất quyết không chịu cung ứng thuốc theo yêu cầu của bệnh viện Việt Đức, với lư do hoàn toàn không có t́nh người rằng:

 

“Thuốc này chỉ dùng để trị cho Cán bộ Cao cấp, không thể cho những người không có tiêu chuẩn dùng!”.

 

Bác sĩ Tôn Thất Tùng, Giám đốc bệnh viện Việt Đức, không dằn được cơn tức giận, quát lên:

 

“Thử hỏi Hồ Chủ Tịch xem, Cán bộ Cao cấp là người, c̣n Cán bộ Sơ cấp không phải là người hay sao?”.

 

Câu chuyện bất công đă tới tai ông Hồ, và ông Chủ tịch nước VNDCCH đă ra lệnh:

 

“Bệnh viện Việt Xô phải cung cấp thuốc cho bệnh viện Việt Đức để cứu người!”.

 

Nhưng than ôi! Bệnh nhân Bành Văn Nhật, quê ở xă Tân Lộc, huyện Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu, miền Tây Nam bộ, 45 tuổi, bỏ lại vợ và 2 con, đă chết khi cái lệnh của ông Chủ tịch bước vừa ban ra. (Theo tiết lộ của Vũ Kư, thư kư riêng của Hồ Chí Minh, 12-1964).

 

4/- Tệ trạng tham ô hủ hóa tràn lan từ Trung ương đến các địa phương, trên toàn miền Bắc XHCN!

 

Từ khi bắt đầu xây dựng CNXH miền Bắc (sau Đại Hội Đảng lần thứ III – 9-1960), trong thực trạng: một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chủ yếu dựa trên nền sản xuất nhỏ cá thể, cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản hết sức kém cỏi và non yếu.” Thế nhưng, miền Bắc phải tiến hành “công nghiệp hoá xă hội chủ nghĩa” (Lịch sử ĐCSVN, sđd, trang 135-136).

 

Chính v́ nóng ḷng, đốt giai đoạn “không qua chủ nghĩa tư bản”, bắt nhân dân “thắt lưng buộc bụng” (ăn cơm độn bắp, độn ḿ, mà vẫn không đủ no) đề gượng ép xây dựng CNXH. Do đó, ngoài xă hội th́ sản sinh trộm cắp, đĩ điếm ngày càng nhiểu. C̣n trong hàng ngự cầm quyền ở từ xả lên đến Trung ương th́ sản sinh ra quá nhiều “con sâu mọt nước hại dân”!

 

Sau đợt Tổng Kiểm Tra HTX nông nghiệp toàn miền Bắc, vào cuối 1964, ông Hồ Chí Minh đă nói với Phạm Văn Đồng một cách khổ sở rằng:

 

“Chẳng nhẽ chú đem chúng nó đi nhốt hết? Chú biết rơ ràng, không có tay chủ nhiệm nào là không tham ô của công cả!” (Theo tiết lộ của Trần Phương, thư kư riêng của Phạm Văn Đồng).

 

C̣n trong ngành công nghiệp th́ không có ông Giám đốc Xí nghiệp nào không t́m đủ mọi cách để “tăng thu nhập cho gia đ́nh” bằng con đường tham ô, nhất là ngành công nghiệp nhẹ, sản xuất ra các mặt hàng phục vụ đời sồng hàng ngày (xà pḥng, thuốc lá, dệt kim, chế biến thực phẩn, đường, trà, bánh kẹo...). Ngay cả bệnh viện, bệnh xá...là nơi cứu người cũng có những kẻ “tham ô trên sự đau khổ của bệnh nhân”. Ngay cả ngành giáo dục, không ít ông Hiệu trưởng nhận quà, thu tiền của phụ huynh học sinh. Công an, cảnh sát th́ khỏi nói, nhất là công an kinh tế, công an hộ khẩu, và cảnh sát giao thông ... Tệ trạng tham ô tràn lan, đến nỗi có người đặt thành ca dao, rằng:

 

“Dại ǵ mà không tham ô. Ăn sung mặc sưóng, ô tô nhà lầu.”

 

Hoặc là:

 

“Kẻ khôn mới biết tham ô. Người hầu kẻ hạ, ôm bồ trẻ măng.”

 

Tệ trạng tham ô tràn lan ở miền Bắc XHCN, đă loang dài đến các trạm đường dây 559, dọc “đường ṃn Hồ Chí Minh”. Các tay trạm trưởng lấy bớt gạo cung cấp cho các đoàn quân trên đường vào chiến trường B, (miền Nam). Chúng -những tên trạm trưởng tham ô - lấy gạo đó để nuôi heo, rồi bán lấy tiền bỏ túi riêng...Con vi trùng tham ô đă len lỏi tận núi rừng Trường Sơn, buộc Thiếu tướng - Cục trưởng Cục Hậu Cần Đinh Đức Thiện, khi nghe phản ánh tệ trạng tham ô ở các trạm đường dây 559, đă nổi nóng, tuyên bố: “Nếu bắt được quả tang tên nào tham ô gạo của chiến sĩ th́ cứ bắn bỏ tên đó” (theo tiết lộ của Trung tá Trần Xuân Thiệp - Trợ lư Cục trưởng hậu cần, tháng 7-1966). Nhưng, chẳng thấy tên tham ô nào bị bắn cả?

 

Thế mới biết: V́ sao trong Di Chúc để lại cho toàn Đảng, ông Hồ Chí Minh đă đặc biệt nhắc nhở rằng:

 

“Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ ǵn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lănh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân.” (Theo “35 năm thực hiện Di Chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà nội, 2004, trang 38).

 

Ông Hồ ơi! Họ đă phản lại lời nhắc nhở của ông rồi! Họ chỉ lợi dụng Di Chúc của ông để lừa mị người dân lương thiện mà thôi!

 

 

II.- 30 năm xây dựng CNXH trên cả nươc Việt Nam. (1976-2005),

 

Sau ngày 30-4-1975, tập đoàn lănh đạo tối cao của Đảng LĐVN, đứng đầu là bộ tứ Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ, chủ trương: “Thống nhất hai miền Bắc Nam càng nhanh càng tốt, để cả nước cùng xây dựng CNXH!”

 

Để tiêu diệt mầm móng chống đối, trước hết phải lừa gạt cả triệu người làm việc cho chế độc cũ bao gồm Quân-Cán-Chính của VNCH, ra tŕnh diện, rồi bắt họ giam trong các nhà tù, trong các Trại lao động khổ sai (bắt đầu ngày 10-5-1975).

 

Để tạo cơ sở kinh tế - chính trị vững chắc cho việc thực hiện mưu đồ sát nhập miền Nam vào miền Bắc, dưới chiêu bài “Thống Nhất Đất Nước”, ngày 18-9-1975 Lê Duẩn ra lệnh bắt cả miền Nam đồng loạt “Đổi Tiền” (lần thứ nhất), và ngày 10-11-1975 tiến hành “Chiến dịch đánh Tư sản mại bản” (lần thứ nhất) Tiếp đến ngày 3-7-1976, Bộ Chính Trị ra chỉ thị “Tích Cực Cải Tạo Công Thương Nghiệp Miền Nam”. Người được giao đặc trách công cuộc CTCTN là Nguyễn Văn Linh, ủy viên BCT kiêm Bí thư Thành ủy thành phố HCM.

 

Đến ngày 22-12-1975, họp gấp cái gọi là “Hội nghị Hiệp thương Thống nhất Việt Nam.”, giữa hai đại diện cùng là ủy viên Bộ Chính Trị của Trung ương Đảng LĐVN - Trường Chinh đại diện cho miền Bắc, và Phạm Hùng đại diện cho miền Nam.

 

Để “trấn áp những tư tưởng phản động, quét sạch tàn dư văn hóa đồi trụy...nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa XHCN ở miền Nam.” (Chỉ thị của Lê Duẩn – Theo tạp chí Văn Học, Hà nội, tháng 6-1976). V́ vậy, một chiến dịch “Thiêu hủy sách báo phản động đồi trụy của Mỹ-Ngụy”, đă bắt đầu vào cuối tháng 8-1975. Theo sau chiến dịch Đốt Sách, toàn bộ Văn Nghệ sĩ của chế độ cũ, cũng bị bắt đi “Học tập Cải tạo”!

 

Sau khi đă quét sạch về căn bản những chướng ngại đối với việc sát nhập miền Nam vào miền Bắc, tập đoàn Lê Duẩn-Lê Đức Thọ, liền quyết định tiến hành bầu cử Quốc hội khóa VI (24-4-1976), để ra tuyên bố:

 

“Hoàn thành thống nhất Việt Nam về mặt Nhà nước” và đặt tên cho nước Việt Nam Thống nhất là “Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” (CHXHCNVN),

 

đổi tên thành phố Sàig̣n thành “Thành phố Hồ Chí Minh”. Đến ngày 2-6-1976, Quốc hội khóa V họp ”bầu” theo sự chỉ định của Bộ Chính Trị, về các chức vụ tối cao của Nhà nước: Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng. Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng.

 

Hơn một năm, từ tháng 5-1975 đến tháng 11-1976, với những thủ đoạn “trời không dung đất chẳng tha, tập đoàn Lê Duẩn-Lê Đức Thọ đă xem như ổn định được về căn bản, đối với t́nh h́nh kinh tế-chính tri, văn hóa-xă hội của miền Nam, cho nên họ quyết định mở Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ IV, vào ngày 14-12-1976. Đại hội này đă quyết định dùng lại tên gốc của Đảng - Đảng Cộng Sản Việt Nam. Lê Duẩn vẫn giữ chức Chủ tịch Đảng kiêm Tổng Bí Thư khóa IV (1976-1980)

 

Bốn mục tiêu xây dựng CNXH của nước Việt Nam Thống Nhất, đă được thông qua trong Đại Hội IV của Đảng CSVN là: 1/- Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xă hội chủ nghĩa. 2/- Xây dựng nền sản xuất lớn xă hội chủ nghĩa. 3/- Xây dựng nền văn hóa mới xă hội chủ nghĩa. 4/- Xây dựng con người mới xă hội chủ nghĩa. (Theo Văn kiện Đại hội IV, Nxb Sự Thật, Hànội, 1977)

 

Thực tế lịch sử của công cuộc xây dựng CNXH trên cả nước Việt Nam, từ 1976 đến 2005, có đạt được 4 mục tiêu mà Đại hội IV của Đảng CSVN đề ra hay không?

 

Nh́n chung, công cuộc xây dựng CNXH trên cả nước Việt Nam trong thời gian 30 năm này, có mấy đặc điểm như sau:

 

1/- Cả nước Việt nam là “một nhà tù XHCN”!

 

Sau khi toàn bộ Miền Nam Tự Do đă bị Cộng Sản Miền Bắc cưỡng chiếm, th́ nhà tù và trại cải tạo mọc lên như nấm, để giam giữ và bắt lao động khổ sai, đối với hàng triệu người của chế độ cũ (Quân-Cán-Chính và Văn Nghệ sĩ của chế độ VNCH). Đó là chưa kể hàng triệu tội phạm h́nh sự (cướp của giết người trước 1975, trộm cắp, buôn lậu và vượt biên sau năm 1975). C̣n có biết bao “trại cải tạo” núp dưới cái gọi là “khu kinh tế mới” để giam lỏng và bắt lao động cải tạo đối với những gia đ́nh tư sản, tiểu chủ, tiểu thương (sau chiến dịch “Cải tạo Công Thương Nghiệp”).

 

Nói nhà tù, trại cải tạo lao động mọn lên như nấm, là căn cứ trên thực tế như sau: Theo tài liệu thống kê của Cục Trại Giam/Bộ Nội Vụ, vào thời điểm 1979, trong cả nước có 300 nhà tù lớn nhỏ có có 500 trại cải tạo - Mỗi Huyện (hay quận) đều có 1 nhà tù, và ít nhất là 1 trại cải tạo. Mỗi Tỉnh có 1 nhà tù lớn, 2 hoặc 4 trại cải tạo. Trung ương có 10 nhà tù lớn nhỏ, và 15 trại cải tạo chứa hàng ngàn người (ở cả hai miền Nam-Bắc) (Theo tiết lộ của Đại tá Ba Biên, Cục trưởng Cục Cảnh sát, năm 1979)

 

Tuy nhiên, với những con số thống kê trên đây, cũng chưa trọn nghĩa cả nước Việt Nam, sau năm 1975, là “một nhà tù Xă Hội Chủ Nghĩa”! Nhưng, nếu hiểu trên b́nh diện toàn dân Việt Nam sau năm 1975 đă hoàn toàn mất hết các quyền tự do của con người, do bởi sự thống trị “chuyên chính vô sản”, độc tài của Đảng CSVN, th́ sự khẳng định cả nước Việt Nam, sau năm 1975, là “một nhà tù XHCN”, thật là không sai chút nào!

 

Cái nhà tù XHCN đó đă gây nên biết bao tai họa cho dân tộc Việt Nam? Cả triệu người con, người chồng nằm ở trong tù, là cả chục triệu người cha, người mẹ, người vợ và con... phải chịu xiết bao nổi khổ đau, càng tủi nhục, do bởi Đảng và Nhà nước CSVN định cho cái thân phận “Gia Đ́nh Ngụy” (!) Cũng chính v́ bị gán cho cái “thân phận nguy hiểm” như vậy, mà con em của những người Việt Nam “không phải là công dân XHCN” ấy, đă bị đuổi ra khỏi các nhà trường XHCN, đẩy ra ngoài đường phố để sinh sống trên các vỉa hè, làm bất cứ nghề ǵ để kiếm tiền nuôi thân... C̣n cảnh nào đau khổ và nhục nhă hơn, có những người vợ v́ cần phải nuôi chồng ở tù, mà phải cúi mặt “bán trôn nuôi miệng” (!) Thế mới biết, người sống ngoài nhà tù c̣n khổ hơn người bị giam trong nhà tù là như vậy!

 

Nhưng, cái nhà tù XHCN đó, không thể nhốt được những người quyết chí t́m Tự Do ở chốn đất khách quê người! Phong trào không chấp nhận chế độ cộng sản, quyết tạm biệt tổ quốc Việt Nam, ra đi t́m Tự Do ở xứ người, đă diễn ra liên tục từ 30-4-1975 cho đến đầu những năm 80 (thế kỷ XX), có đến gần 2.000.000 người vượt biển, vượt biên giới trên đất liền, để t́m đến bến bờ tự do, trong đó có hơn 500.000 người đă vùi thây dưới ḷng đại dương ... (những con số trên đây, trích từ "tư liệu tuyệt mật” của Cục An Ninh/Bộ Nội Vụ, trong tập hồ sơ “Tổng kết t́nh h́nh An Ninh Chính Trị trong thời gian 1975-1985” – lưu trữ tại Cục Lưu trữ trung ương )

 

2/- Thực chất cái gọi là “trật tự XHCN”, chỉ là “vô pháp luật, không có kỷ cương”:

 

Theo các lư thuyết gia của Đảng CSVN:

 

“Muốn thiết lập và giữ vững được trật tự xă hội chủ nghĩa trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xă hội, là phải sử dụng đầy đủ sức mạnh tổng hợp của chuyên chính vô sản.”, có nghĩa là “phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng trong quản lư kinh tế  -xă hội, quản lư tư tưởng - văn hóa, quản lư tổ chức-cán bộ.” (Theo Văn kiện Đại Hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hànội, 1987, trang 26-27).

 

Nhưng trong thực tế lịch sử của 30 năm xây dựng CNXH Việt Nam và cái gọi là “Trật Tự XHCN”, thực chất như thế nào?

 

-Về kinh tế-xă hội th́ lạc hậu, nghèo đói, buôn lậu - chợ đen thịnh hành, dẫn đến sự phân hóa giàu – nghèo, bóc lột - bị bóc lột ngày càng khốc liệt; cướp giật, đĩ điếm tràn lan... V́ vậy, đến năm 2005, Đảng CSVN phải thừa nhận một phần sự thật, rằng:

“Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn c̣n ở mức cao, đang là một trong những vấn đề nổi cộm nhất của xă hội.”

“Các tệ nạn xă hội, nhất là nạn ma túy và mại dâm lan rộng. Số người nhiễm HIV và bệnh AIDS tăng. Trật tự an toàn xă hội chưa được bảo đảm vững chắc.” (Theo Văn Kiện Đại Hội IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hànội, 2001, trang 74-75).

 

Kinh tế XHCN không ra kinh tế XHCN, kinh tế phi XHCN không ra kinh tế phi XHCN, mà là nửa nạc nửa mở theo thể chế “kinh tế thị trường định hướng xă hội chủ nghĩa”, khác nào anh chàng bần cố nông (định hướng XHCN) lấy bà vợ sang giàu (kinh tế thị trường). Và trên nền kinh tế bấp bênh, không ổn định, nuôi dưỡng nhiều mầm móng khủng hoảng triền miên đó, đă h́nh thành một xă hội rối loạn, đầy bất công theo công thức “nhât tiền, nh́ thân, tam thế, tứ quyền, ngũ chế” (!) Nền kinh tế - xă hội như thế th́ nước Việt Nam XHCN phải lâm vào t́nh trạng tụt hậu đến thành nửa thế kỷ so với các nước tân tiến là lẽ đương nhiên! Chỉ cần so với Đài Loan, Thái Lan và Tân Gia Ba... cũng thấy rơ nỗi khốn khổ của dân tộc Việt Nam, khi bước vào thế kỷ XXI - thế kỷ của nền văn minh điện tử.

 

- Về tư tưởng-văn hóa, th́ Đảng CSVN cố thực hiện cho được chính sách “xă hội chủ nghĩa hóa tư tưởng và văn hóa” cho toàn Đảng, toàn Quân và toàn Dân. Cụ thể là “phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Và rằng, phải lấy “chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là ánh sáng dẫn đường và làm kim chỉ nam cho mọi chủ trương, chính sách và đường lối của Đảng” (Hăy xem các Báo Cáo Chính Trị của các Đại Hội IV, V, VI, VII, VIII, IX và Dự Thảo BCCT cho Đại Hội X của Đảng VCSVN, th́ thấy rơ ràng!).

 

Thật là khốn khổ cho gần 2.000.000 đảng viên thường, đêm ngày bám xí nghiệp, đồng ruộng, cầm súng đứng gác biên giới, canh pḥng hải đảo...phải tuân lệnh Đảng nhồi nhét một thứ chủ nghĩa Marx-Lénine, vốn đă lạc hậu, phản lại đà tiến bộ của nền văn minh hiện đại, chống lại trào lưu dân chủ hóa toàn cầu. Đảng CSVN đă và đang biến hàng triệu Đảng viên trở thành “những con ếch ngồi tận dưới đáy giếng sâu", để nh́n bầu trời mà đoán định tương lai (!). Nhưng, đó chỉ là mưu đồ nhồi sọ, bần cùng hóa tư tưởng Đảng viên, Đoàn viên thanh niên cùng với nhân dân lao động, mong biến họ thành công cụ đắc lực cho tập đoàn lănh đạo Đảng.

 

Nhưng, thực tế Đảng CSVN đă thất bại! Ngay từ năm 1986, Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa V đă phải thừa nhận một sự thật, rằng: “Trong lĩnh vực tư tưởng đă bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lư luận...” (Văn kiện Đại hội VI, đă dẫn, trang 27). Và đến năm 1998, Ban Chấp Hành trung ương Đảng CSVN khóa VIII cũng phải thú nhận một cách chua chát rằng:

 

 “Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp v́ đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên t́nh nghĩa gia đ́nh, quan hệ thày tṛ, đồng chí, đồng nghiệp.” “Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền.” (Văn Kiện Hội nghị lần thứ năm của BCH trung ương khóa 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hànội, 1998, trang 46-47).

 

- Về tổ chức-cán bộ, th́ về lư luận vẫn bám chắc vào “chủ nghĩa thành phần” và đứng trên “lập trường giai cấp” mà thực hiện chính sách tổ chức-cán bộ. Nhưng, trong thực tế đă biến chất, không c̣n như 15 năm xây dựng CNXH miền Bắc.

 

Cũng chính Lê Đức Thọ nắm chức Trưởng Ban Tổ Chức Trung ương Đảng, cho đến khi ông ta bị đẩy ra khỏi cương vị ủy viên BCT, trong Đại hội VI (tháng 12-1986), th́ BCH trung ương khóa VI mới dám công khai chỉ trích công tác tổ chức cán bộ từ 10 năm qua (1976-1986) như sau:

 

“Trong công tác tổ chức cán bộ, khuyết điểm lớn nhất là sự tŕ trệ, chậm đổi mới công tác cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào các cơ quan lănh đạo và quản lư các cấp, c̣n dựa theo một số quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn không đúng đắn, mang nặng tính h́nh thức, không xuất phát từ yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và yêu cầu của công việc...”

“Phong cách lănh đạo và lề lối làm việc mang nặng chủ nghĩa quan liêu, lời nói không đi đôi với việc làm...Trong các Đảng bộ và các cấp ủy có sự vi phạm nguyên tắc Lê-nin-nít trong sinh hoạt Đảng, trước hết nguyên tắc tập trung dân chủ...” (Văn kiện Đại hội VI, đd, trang 27-28).

 

Tuy nhiên, suốt trong 15 năm kế tiếp (1986-2001), Đảng CSVN đă sửa chữa được ǵ trong công tác tư tưởng? Hăy nghe BCH trung ương Đảng CSVN khóa IX than:

 

“T́nh trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng!” (Văn kiện Đại hội X, đd, trang 76).

 

C̣n công tác tổ chức cán bộ đă có cải tiến ǵ hơn, sau 15 năm sửa sai? Vẫn như cũ! Nghĩa là:

 

“T́nh trạng tùy tiện, thiếu ư thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, báo cáo không trung thực, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.” (Văn kiện đă dẫn, như trên).

 

Cho nên, sự đánh giá của BCH trung ương Đảng CSVN khóa VI, cho đến năm 2001 vẫn c̣n có giá trị thực tế, rằng: “pháp luật và kỷ cương của Nhà nước bị vi phạm ngày càng phổ biến.” (Văn kiện Đại hội VI, đd, trang26).

 

3/- Tham nhũng đă trở thành “Quốc Nạn”!

 

Nếu trong 15 năm xây dựng CNXH miền Bắc, tệ trạng tham ô với cơ số là “1”, th́ nạn tham nhửng trong 30 năm xây dựng CNXH trên cả nước Việt Nam có cơ số lên đến “1000”, hoặc hơn thế nửa! V́ sao? Có phải cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trong những năm 1960-1975, chưa biến chất, thoái hóa nghiêm trọng như thời gian 1976-2005 hay không?

 

Tệ trạng này không phụ thuộc vào yếu tố thời gian, mà nó thuộc về ḷng tham của những con người có bản chất xấu xa, đê tiện, chỉ v́ quyền lợi ích kỷ của cá nhân, mà xâm phạm đến tài sản của quốc gia dân tộc! Do đó, tính xấu xa của những kẻ tham nhũng là phát triển theo tỷ lệ thuận với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cứ khảo sát những vụ án tham nhũng trong những năm 1976-1986, th́ mức độ tham nhũng ít hơn nhiều với những vụ án ở những năm 1986-1996, và những vụ tham nhũng càng nghiêm trọng hơn, với số tiền bỏ túi riêng càng lớn hơn, và sự cấu kết tham nhũng càng được tổ chức chặt chẽ, tinh vi hơn!

 

Chúng ta hăy xem sự thú nhận (tuy chưa đầy đủ) của tập đoàn lănh đạo Trung ương Đảng CSVN, qua những giai đoạn khác nhau, th́ sẽ hiểu rơ thực trạng phát triển của “Quốc Nạn Tham Nhũng” ở Việt Nam trong 30 năm qua!

 

a)- Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khóa VI (1986-1991), do Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư, đă thú nhận rằng:

 

“Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước, những hoạt động của bọn làm ăn phi pháp...chưa bị nghiêm khắc và kịp thời.” (Văn kiện Đại hội VI, đd, trang 18).

 

Bọn tham nhũng nổi cộm trong thời gian 10 năm này là ai vậy? Tại sao BCH trung ương Đảng khóa VO không dám chỉ thẳng, không dám truy cứ đến cùng?

 

Đó là tập đoàn Lê Duẩn - Lê Đức Thọ - Đỗ Mười - Lê Đức Anh! Mặc dù Lê Duẩn vừa mới chết (3-7-1986) nhưng bóng ma của hắn c̣n ám ảnh, c̣n ảnh hưởng và sự bảo vệ của bọn đàn em có chức có quyền, đang ngự trị từ trung ương xuống đến các địa phương! Tuy Lê Đức Thọ đă bị đẩy ra khỏi BCT và thôi làm Trưởng Ban Tổ Chức trung ương, nhưng vẫn c̣n chễm chệ trên cái ghế “Cố Vấn Tối Cao”, vẫn c̣n chỉ đạo bọn đàn em đang ngự trị hầu hết các Tỉnh ủy miền Bắc và miền Trung, ngoài ra c̣n có 2 người em ruột là Mai Chí Thọ, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, và Thượng tướng Phó Bí thư Quân ủy Đinh Đức Thiện. Đỗ Mười th́ đang đương chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. C̣n Lê Đức Anh th́ đang làm Tư Lệnh Quân t́nh nguyện Việt Nam ở Campuchia!

 

b)- Ban Chấp Hành trung ương khóa VII (1991-1996), cũng phải thừa nhận, như sau:

 

“Nạn tham nhũng, buôn lậu, lăng phí của công chưa ngăn chặn được. Tiêu cực trong bộ máy nhà nước, đảng và đoàn thể, trong các doanh nghiệp nhà nước, nhất là trên các lĩnh vực nhà đất, xây dựng cơ bản, hợp tác đầu tư, thuế, xuất nhập khẩu, và cả trong hoạt động của nhiều cơ quan thi hành pháp luật... nghiêm trọng, kéo dài.” (Văn kiện Đại hội 8, đd, trang 64).

 

Thời gian 10 năm này (1986-1996), đă có dư luận: “Ông Tổng Bí Thư Đỗ Mười có nhận cả triệu USD, do một công ty nào đó của Đại Hàn tặng.” Tại sao BCH trung ương khóa VII, rồi khóa VIII, không thấy ai hó hé, bởi v́ hai khóa đó, Đỗ Mười đều làm Tổng Bí thư? Đây cũng là thời gian Lê Đức Anh hốt rất nhiều vàng trên đất Chùa Tháp mang về Việt Nam! Lê Đức Anh bỏ túi riêng hay chia chác cho ai, hoặc nộp vào quốc khố, cũng không thấy ai ở trong BCH trung ương đưa ra để minh bạch hóa. Dư luận ở trong nước bàn tán cũng mặc! Báo chí Tây phương b́nh luận cũng cứ lờ đi cho xong chuyện! Tệ hại nhất là tên trùm xă hội đen Năm Cam đă bị bắt (1995) và đưa đi lao động cải tạo ở miền Bắc, nhưng năm 1997, hắn lại được thả ra? (trong khi đó, một em bé 14 tuổi v́ cướp giật một cái đồng hồ mà cho đi lao động cải tạo đến 5 năm? Và do ông lớn nào đỡ đầu, mà chỉ có 3 năm (1988-2000) Năm Cam công khai kinh doanh bất động sản, với tổng giá trị tài sản có đến hàng 100 tỷ đồng? Đó là chưa kể các nguồn thu từ song bạc, nhà chứa, khách sạn và nhà hàng cao cấp! Năm Cam mua chuộc hầu hết những Cán bộ Công an phụ trách h́nh sự và kinh tế của Sở Công an; trả lương cho một số cán bộ tư pháp, ṭa án và Viện kiểm sát thành phố HCM (!), Chính v́ thế mà Năm Cam mới mạnh miêng tuyên bố với đàn em rằng: “Chuyện luật pháp đă có anh lo, các chú không việc ǵ phải sợ!”

 

c)- Ban Chấp Hành trung ương khóa VIII do Lê Khả Phiêu làm Tổng Bí thư nửa nhiệm kỳ sau, cũng thú nhận sự thật “tham nhũng là một nguy cơ lớn”, rằng:

 

“Nạn tham nhũng kéo dài trong hệ thống bộ máy chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe dọa sự sống c̣n của chế độ ta.” (Văn kiện Đại hội IX, đd, trang 76).

 

Quả thật! Trong suốt 20 năm qua (1976-1996), chưa bao giờ nạn tham nhũng phát triển và hoành hành như giai đoạn 1996-2005, bước qua đầu năm 2006 này!

 

Sự kiện th́ nhiều, nhưng phát hiện và xử lư bằng pháp luật th́ không có bao nhiêu, ngoài một số cán bộ liên quan với vụ án trùm xă hội đen Năm Cam (2002). C̣n chuyện Chủ tịch nước Trần Đức Lương biến đất công thành đất tư ở vịnh Hạ Long, bao che cho con rể chiếm đất của dân ở Đông Anh, th́ xử lư thế nào? Chuyện Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh lăng phí nhiều tỷ bạc trong việc làm đường bê-tông xuyên qua mấy chục cây số rừng núi, làm cả băi đáp cho trực thăng, vào tận cửa nhà của ông ta ở xă Cương Lợi, huyện Nà Rí tỉnh Bắc Cạn, th́ ai dám thanh tra? Chuyện Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đă nhận tiền đút lót của bao nhiêu quan chức cấp trung ương, cũng như cấp tỉnh, trong thời ông ta làm Trưởng Ban Tổ chức trung ương (1996-2001), th́ ai dám đưa ra ánh sáng công lư? Chuyện Trưởng Ban Tổ Chức Trung ương Trần Đ́nh Hoan nhận tiền “mua quan bán chức” - chức lớn giá tiền lớn, chức nhỏ giá tiền nhỏ - trên khắp cả nước, th́ có ai dám tố cáo? V.v... và v.v...

 

Trước khi bước vào Đại hội X, mới bùng nổ vụ PMU 18 thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải do ông Đào Đ́nh B́nh làm Bộ trưởng, mà kẻ chủ chốt là Tổng Giám đốc Bùi Tiến Dũng, có “dây mơ rễ má” tới Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Việt Tiến, và ai ai nữa trong đường dây “cá độ” “chạy án”? Trong bức thư công bố công khai trên báo chí trong nước, ngày 13-4-2006, Đại tướng Vơ Nguyên Giáp gọi vụ án PMU 18 là “Giặc Nội Xâm”! Và theo ông, vụ PMU 18 đă được phát hiện từ năm 2001, nhưng Bộ Chính Trị cứ bao che, và BCH trung ương Đảng khóa IX cứ lờ đi, coi như không có ǵ xảy ra (!). Đại tướng Vơ Nguyên Giáp kết luận rằng:

 

“Vụ án PMU 18 và những vụ án kinh tế đă được phát hiện vừa qua đă báo động về sự nghiêm trọng của t́nh h́nh sa đọa, thoái hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ cao cấp; và bào động về t́nh trạng quan liêu, mất dân chủ, và những khuyết tật về tổ chức, cơ chế làm tê liêt vai tṛ lănh đạo của Đảng, sự quản lư của Nhà nước, sự giám sát của nhân dân, làm cho tham nhũng có đất đứng thêm, tồn tại và kéo dài, ngày càng phát triển!”

 

Thế nhưng, trong “Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội X của Đảng”, do Chủ tịch Hội đồng Lư luận của Trung ương Đảng, ủy viên Bộ Chính Trị Nguyễn Phú Trọng chủ biên, chỉ đề cập sơ như sau:

 

“Tệ quan liêu, tham nhũng, lăng phí vẫn nghiêm trọng”(Xem phần I, đoạn nói về những khuyết điểm và những yếu kém, trong câu cuối của điểm 2).

 

Thực tế này đă chứng tỏ vụ án tham nhũng của tập đoàn tội phạm Bùi Tiến Dũng-Vũ Mạnh Tiến ở PMU 18, đă có sư bao che từ cấp trên! Do đó, Vơ Nguyên Giáp, Chu Huy Mân, Mai Chí Thọ và nhiều đảng viên cao cấp đă về hưu, kiên quyết đ̣i BCH trung ương phải xử lư thật nghiêm những tên tội phạm và những người có liên quan đến vụ án PMU 18, và phải chấp pháp dứt điểm ngay trong Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X của Đảng (từ 18 đến 25-4-2006) Liệu tập đoàn lănh đạo trung ương Đảng CSVN hiện hành, có đủ quyết tâm thực hiện yêu cầu vô cùng bức xúc đối với sự sống c̣n của Đảng CSVN và Nhà nước CHXHCNVN hay không?

 

o0o

 

Thực tiễn Việt Nam trước khi Đảng CSVN tiến hành Đại Hội lần thứ X (cuối tháng 4-2006), phải thừa nhận một sự thật là: Từ khi thực hiện nền kinh tế thị trường, kư Hiệp Định Thương Mại với Hoa Kỳ (13-7-2000) th́ nền kinh tế Việt Nam đă phát triển theo chiều hội nhập với các nền kinh tế phát triển trên thế giới, làm cho bộ mặt sinh hoạt vật chất của xă hội Việt Nam có nhiều thay đổi hơn trước... Nhưng, v́ tính giáo điều và bảo thủ quá nặng nên vẫn ngoan cố “định hướng XHCN” cho mọi hoạt động của “kinh tế thị trường”, nên đă tạo nên một lực cản rất lớn trên con đường phát triển!

 

Nếu Đảng CSVN vẫn kiên tŕ xây dựng “xă hội xă hội chủ nghĩa...dưới sự lănh đạo của Đảng CSVN”, như đă được khẳng định trong “Dự thảo Báo cáo Chính trị...” (trong phần II, đoạn trước khi nêu “những bài học lớn), th́ chắc chắn nước Việt Nam sẽ trở lại thực trạng XHCN của 30 năm qua (1975-2005), và tương lai của dân tộc sẽ lâm vào cảnh nghèo nàn, lạc hậu mất mọi quyền tự do và quyền sống của con người!

 

Mùa Phục Sinh

Ngày 15 tháng 4 năm 2006

Lê Tùng Minh

 

 

 


 

[ Sgt-Times Úc Châu ]-[ B́nh Luận ]-[ Trang Chính ]

Mục Lục