Mục Lục

 

Hồi kư: Tôi T́m Tự Do (Kỳ 8)

- Hữu Nguyên SGT Úc Châu-


(Tiếp theo...phần 7)

 

V́ lúc đó, tôi vẫn c̣n đứng trong bóng tối, c̣n anh lính VNCH th́ đứng dưới ánh sáng đèn điện, nên tôi nh́n thấy anh rơ mồn một, c̣n anh, nếu có nh́n thấy tôi th́ cũng chỉ thấy một bóng đen mờ mờ mà thôi. Chính trong hoàn cảnh đó, nên câu nói tối nghĩa của tôi, "Ông không cần phải dùng đến súng đâu!" càng khiến cho bầu không khí thêm căng thẳng. Nhận ra sự nguy hiểm của câu nói tối nghĩa, tôi vội vàng nói thêm:

 

- Tôi về đây là để đầu hàng các ông... Tôi không có ác ư ǵ cả... Tôi đi t́m tự do mà ông...

 

Tôi nói lắp bắp liền một hơi mấy câu v́ nói xong câu trước, tôi vẫn thấy không rơ nghĩa nên phải nói thêm câu sau. Nói xong cả ba câu, tôi thấy vẫn chưa đủ, mà cần phải làm một hành động ǵ cụ thể và rơ ràng để thể hiện thiện chí của ḿnh hơn. Nghĩ tới đó, tôi vội vàng bước ngay ra vùng ánh sáng đèn điện, hai tay dơ cao lên khỏi đầu...

 

Thấy tôi như vậy, người lính có lẽ đă hiểu rơ phần nào ư định của tôi, nhưng chắc chắn anh chưa thể nào tin tưởng ngay những lời tôi nói... Lập tức, anh đưa ngay tay vô trong chiếc xe Jeep, lôi khẩu AR-15 ra khỏi xe, lên đạn, chĩa ṇng súng về phía tôi, rồi đưa ngay chiếc c̣i đeo ở cổ lên miệng thổi liền mấy hồi c̣i ṛn ră...

 

Nh́n ṇng khẩu súng AR-15 chĩa về phía ḿnh trong khoảng cách không đầy 5 thước, tôi rùng ḿnh sợ cứng cả người. Tôi hiểu, lúc đó, nếu tôi sơ sểnh có bất cứ hành động ǵ, khiến anh lính VNCH hiểu lầm, lập tức tôi sẽ ăn đạn. V́ vậy, tôi đứng yên bất động, hai tay dơ cao khỏi đầu, miệng lắp bắp mà không biết ḿnh nói ǵ... Tôi biết rằng, lúc đó, tôi càng tỏ ra sợ hăi, nhút nhát bao nhiêu th́ cơ hội sống sót của tôi càng lớn.

Sau khi thổi mấy hồi c̣i, người lính VNCH liền chĩa ṇng súng AR-15 lên trời và bóp c̣... Những tiếng nổ chát chúa vang lên từng tràng, phá tan sự yên tĩnh của đêm tối. Lập tức, từ trong căn nhà, mấy chục người lính chạy ra, có người cầm súng, có người không, có người đeo trên vai lủng lẳng những băng đạn,... nhưng hầu hết đều cởi trần. Tất cả đều vây tṛn quanh tôi và anh lính gác... Tiếng huyên náo nổi lên, đủ các câu hỏi, tiếng ḥ hét, mà tôi th́ quá hoảng hốt, nên chẳng nhớ được ǵ. Nhất là từ ngày đó cho đến nay, cuộc đời tôi liên tục trải qua những biến động kinh hoàng có, đau khổ có, yêu thương hạnh phúc cũng có, mà cái nào cũng lớn lao, sâu đậm, nên đến giờ phút này, ngồi viết lại, tôi chẳng c̣n nhớ được nhiều... ngoài những chi tiết quan trọng, tạo nên những bước ngoặt lớn lao của cuộc đời tôi.

 

Đầu tiên là những câu hỏi gay gắt, nghiêm khắc, và có cả những câu hỏi doạ nạt, đến từ đằng trước, đằng sau, bê trái, bên phải... mà tôi nhớ đại khái như thế này.

 

- Anh là ai?

 

- Tôi là bộ đội.

 

- Anh vô đồn này lúc nào?

 

- Tôi vô lúc năy.

 

- Lúc năy là lúc nào?

- Tôi không nhớ là lúc nào.

- Anh vô đă lâu chưa?

- Khoảng 15, 20 phút.

- Ngoài anh, c̣n những ai nữa?

- Chỉ có ḿnh tôi thôi.

- Anh phải nói thật. Chúng tôi sẽ ra lệnh bao vây và kiểm soát toàn bộ khu vực này ngay bây giờ. Nếu phát hiện ra một người bộ đội thứ hai, là anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Anh rơ chưa?

- Thưa, tôi rơ!

- Có đúng là anh vô đây chỉ có một ḿnh không?

- Đúng, tôi vô đây chỉ có một ḿnh!

- Anh bảo đảm không?

- Tôi "đảm bảo"!

- Anh vô đây làm ǵ?

-Tôi vô đây để đầu hàng các ông. Tôi muốn t́m tự do...

- Nếu vậy anh là hàng binh. Anh phải khai đúng sự thật, th́ anh sẽ được đối xử tử tế như một hàng binh. Anh hiểu chưa?

- Tôi hiểu. Tôi cảm ơn các ông.

Ngay lúc đó, tôi thấy có một người lính VNCH lớn tuổi, khoảng gần 50. Trong khi những người lính đều cởi trần th́ ông mặc quần áo đàng hoàng. Nét mặt của ông có vẻ khắc khổ, nhưng phúc hậu. Ông quay ra phía mấy người lính nói ǵ không rơ, một hồi... Sau đó, tôi thấy mấy người lính đứng quanh tôi tản mát, người đi vô nhà, người đi lên, kẻ đi xuống. Riêng người lính già bước lại phía tôi, nhấc chiếc mũ sắt ra khỏi đầu và nh́n tôi cười. Nụ cười của ông thật chân thật và thân mật vô cùng. Tôi xúc động nh́n ông, không nói nên lời. Sau những phút căng thẳng về trí tuệ và thân xác, được trông thấy nụ cười của của ông, và cặp mắt ông nheo nheo, lấp lánh dưới ánh đèn điện, tôi thở phào một tiếng và nhủ ḷng: "Vậy là ḿnh thoát chết!"

Người lính già cất tiếng, giọng Nam, ấm áp và chân t́nh:

- Chiếc mũ sắt này nặng lắm. Bỏ ra cho đỡ nặng. Bây giờ chú em theo qua lại đây.

Tôi ngoan ngoăn đi theo ông. Chung quanh vẫn c̣n những người lính và những cặp mắt ṭ ṃ nh́n theo tôi. Chỉ một chiếc ghế đẩu ngay gần cửa, người lính già bảo tôi ngồi. Tôi vừa ngồi xuống, th́ người lính già cúi xuống, ghé sát mặt tôi, rồi nói vừa đủ để tôi nghe:

- Qua trông chú em là qua biết chú em thiệt thà. Qua dặn chú em điều này, chú em phải nhớ kỹ và làm đúng như lời qua dặn nghe. Được vậy th́ chú em đỡ khổ nhiều lắm...

Nghe vậy, tôi hơi lo lo, nên chỉ biết gật đầu nhẹ, mà không nói thành tiếng. Nh́n ra chung quanh, tôi vẫn thấy có những người lính VNCH đang nh́n tôi. Trong ánh mắt của họ, tôi thấy có sự ṭ ṃ, nỗi thương hại, và có cả sự tinh nghịch, thích thú trong đó...

Tiếng người lính già lại cất lên:

- Từ rày trở đi, có ai hỏi chú em về làm ǵ, th́ chú em trả lời tôi về "chiêu hồi" nghe chưa. Chú đừng nói chú về đầu hàng. V́ nói vậy, là qua sẽ phải coi chú là hàng binh, là phải nhốt tù chú. Rồi sau này hết chiến tranh là qua sẽ phải trả chú về bển cho VC đó.

Nghe người lính già nói vậy, tôi giật ḿnh, và tỉnh người ngay. Thực ra, từ khi đặt chân đến lănh thổ Miền Nam, hành quân xuống vùng Nam Lào ngay sau khi trận Lam Sơn 719 kết thúc, tôi đă từng nhặt được những tờ truyền đơn do phi cơ thả khắp trong rừng. Nội dung của những tờ truyền đơn đó là kêu gọi cán binh, bộ đội VC ra "hồi chánh", "trở về với chính nghĩa quốc gia". Mỗi tờ truyền đơn là một giấy thông hành, trong đó chỉ rơ, bộ đội, cán binh VC cầm tờ giấy đó tŕnh với bất cứ cơ quan công quyền hay đơn vị QLVNCH nào, lập tức sẽ được đối xử tử tế... Tuy được đọc những tờ truyền đơn đó, nhưng tôi không bao giờ cất giữ, v́ làm vậy sẽ rất nguy hiểm... Bây giờ nghe người lính già nói vậy, tôi xúc động và mừng quá, vội trả lời:

- Con cảm ơn "qua". Con nhớ rồi. Từ giờ trở đi ai hỏi con về làm ǵ, con sẽ trả lời con về "chiêu hồi"...

Thú thực với quư độc giả, ngay từ giờ phút đó trở đi, hai chữ "hồi chánh" đối với tôi rất thân thương và là niềm tự hào. Sau này, được hội nhập với đời sống của Miền Nam, được đi đây đó, học hành, làm việc, bất cứ ở đâu, gặp bất cứ ai hỏi, tôi đều tự hào nói, tôi là một "hồi chánh viên". Cũng giống như sau này, khi trở thành một người Việt tỵ nạn, tôi cũng rất tự hào với hai chữ "tỵ nạn chính trị". Những khi đi làm hăng xưởng, tṛ chuyện với người Úc, tôi bao giờ cũng dơng dạc và tự hào nói "I'm a political refugee".

Trong thời gian về Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè, tham dự khoá giảng huấn do Bộ Chiêu Hồi tổ chức, tôi nhớ có một anh bạn, người Hà Nội, cũng chiêu hồi, đă đứng lên thắc mắc về chữ "hồi chánh". Theo anh, chữ "hồi chánh" chỉ dành cho người đă đi theo tà phái rồi biết đường ăn năn, hối cải, quay trở về nẻo chánh th́ mới gọi là hồi chánh. Nghe anh bạn nói, tôi thấy cũng có lư. Bản thân tôi từ khi c̣n bé đă không ưa ǵ cộng sản. Tôi không hề bao giờ có ư "phấn đấu" để được vô đoàn thiếu nhi, đoàn thanh niên. Cả cuộc đời tôi luôn luôn tránh xa những ai là đảng viên cộng sản. Tôi luôn luôn cho rằng, bất cứ ai đă là đảng viên cộng sản th́ thể nào cũng biến chất và không bao giờ là một con người có ḷng nhân ái, biết trọng lễ nghĩa, biết yêu thương nhau một cách chân thành. Duy vật biện chứng và tham vọng phấn đấu trên đường danh vọng của người cộng sản, sẽ giết chết tất cả những ǵ được gọi là thuần lương vốn có ở con người. Và tôi biết rằng, trong suốt những năm tháng tôi ở Miền Bắc, đâu đâu tôi cũng thấy nhan nhản những người Việt Nam là nạn nhân của chế độ cộng sản. C̣n người Việt Nam là cộng sản có rất ít. Cả một làng quê tôi sống, cả mấy ngàn dân, hoạ may chỉ có khoảng 100 người cộng sản là cùng. Nếu lúc đó ở Miền Nam có ai bay ra được Miền Bắc mà nh́n xuống, người đó sẽ thấy cả xă hội Miền Bắc, hàng chục triệu người sống khổ sở, đói khát, lạnh lẽo và không hề có tự do, lúc nào cũng nơm nớp sợ hăi, sợ cả người hàng xóm, sợ cả chính người cũng khổ sở như ḿnh... Trong số đó, có rất nhiều người ngày đêm dí sát tai vào chiếc radio, nghe ngóng tin tức về những cuộc "Bắc tiến" của Miền Nam. Trong số những người ôm radio, ngóng đợi, mong chờ tin "Bắc tiến" đó có thầy tôi và ông Tổng Tu, thông gia với thầy tôi, mỗi khi thầy tôi ghé thăm ông ở Hà Nội vào dịp tết.

Mỗi năm, vào dịp tết đến, thầy tôi thường dắt tôi đi bộ qua hàng chục làng mạc khác nhau, rồi mới về đến quê là làng Đầm mà trên giấy tờ gọi là làng Bích Tŕ. Tại làng Đầm, ba tôi dắt tôi thăm mộ tổ, mộ ông nội, mộ bà nội, mộ ông ngoại, một bà ngoại, mộ chị Phúc, rồi mộ họ hàng chú bác.... Tất cả các ngôi mộ đó đều xây rất to. Nhất là mộ tổ xây vuông vức, mỗi chiều 4, 5 thước, cao tới ngực của tôi. Trong mộ tổ có 3 ngôi  mộ khác xây ṿng tṛn. Riêng mộ chị Phúc, và mộ bà, khi qua đời là lúc ba tôi đă bị đấu tố địa chủ, rau cháo c̣n không có ăn, th́ làm sao có tiền xây mộ. Bà nội tôi khi qua đời, ba tôi không có đủ tiền để mua một ngọn đèn cầy, một nén nhang, th́ làm sao mua nổi chiếc quan tài. May mắn, lúc đó có cụ lang An tuổi đă cao, con cháu đă mua sẵn cho cụ chiếc quan tài để trong nhà, nên khi thấy bà nội của tôi mất, cụ lang An thương thầy tôi, không muốn bà nội của tôi phải bó chiếu chôn, nên đă cho thày tôi chiếc quan tài của cụ... Nhờ nghĩa cử to lớn đó, nên ba tôi lúc nào cũng coi cụ lang An là một đại ân nhân của gia đ́nh. Và hôm nay, khi viết những ḍng chữ này, tôi cũng rưng rưng lệ và âm thầm cầu nguyện cho cụ lang An được măi măi vinh hiển trên nước Chúa...

V́ mộ bà nội và mộ chị Phúc chỉ là nấm đất nhỏ bé, sơ sài, nên năm nào cũng vậy, ba tôi và tôi phải mất mấy tiếng đồng hồ, làm cỏ, dọn dẹp và khiêng những cục đất tảng, hoặc những viên gạch vỡ ở chung quanh về đắp lên trên mộ. Ba tôi vừa làm vừa khóc. Tôi cũng khóc theo. Làm xong, ba tôi và tôi đứng đọc kinh cầu nguyện thật lâu... Tết ở Miền Bắc bao giờ cũng là mùa đông lạnh lẽo, mưa phùn gió bấc. Mà gia đ́nh của tôi lúc đó nghèo lắm, quần áo không có đủ để mặc. Lúc nào cũng phong phanh một bộ, rách như tổ đỉa, vá chằng vá đụp. Trong khung cảnh lạnh lẽo đó, ba tôi và tôi vừa mệt nhọc, vừa đói khát, chùm chung một manh áo mưa rách, vừa đọc kinh, vừa nh́n một bà, một chị Phúc... mà khóc...

Thầy tôi sống trong cảnh gà trông nuôi con, cả đời chỉ biết dùi mài kinh sử, yêu quư lời của thánh hiền, luôn luôn dậy tôi "khai quyển hữu ích", mở sách là có lợi, nên đâu có biết ǵ đến kim chỉ. Nhưng do hoàn cảnh, phải cầm kim cầm chỉ để khâu vá quần áo cho tôi. V́ vậy, những miếng vá của thầy tôi trông xấu xí vô cùng. Thậm chí có những miếng rách nhỏ, không có vải để vá, thày tôi chỉ lấy chỉ quấn quanh mấy ṿng thành cái núm nhỏ, nên quần áo của tôi trong méo mó thê thảm. Mỗi khi đi học tôi xấu hổ với bạn bè vô cùng, và thường xuyên bị bạn bè dè bỉu. Đă mang tiếng là con địa chỉ, mà lại nghèo khổ nữa nên tôi khổ sở, đi học mà lúc nào cũng như con chim bị tên sợ đậu phải cành cây cong. Những lúc đến giờ ra chơi, tôi thường ngồi chết dí trong lớp, không dám ra ngoài, v́ sợ bị chêu trọc, sợ những miếng vá trên quần áo, có thể rách, có thể tuột chỉ, làm tṛ cười cho thiên hạ.... (C̣n tiếp...)


[ Hữu Nguyên SGT ]-[ B́nh Luận ]-[ Trang Chính ]

Mục Lục