Mục Lục

Hồi kư: Tôi T́m Tự Do: (Phần 6)

-  Hữu Nguyên -SGT Úc Châu-

---------------------------------------------------

Tôi là Nguyễn Hữu Chí, sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, từng có hơn một năm phải đội nón cối, đi dép râu, theo đội quân Việt Cộng xâm lăng Miền Nam. Trong những năm trước đây, khi cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Úc c̣n minh bạch, lằn ranh quốc cộng c̣n rơ ràng, tôi hoàn toàn tin tưởng và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu, thế lực của cộng sản. Nhưng gần đây, có những dấu hiệu rơ ràng chứng tỏ, những thế lực ch́m nổi của cộng sản tại Úc đang t́m cách xóa bỏ lằn ranh quốc cộng, đồng thời thực hiện âm mưu làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của người Việt hải ngoại. Trong hoàn cảnh đấu tranh ngày càng khó khăn đó, tôi thấy ḿnh chỉ có thể đi tiếp con đường ḿnh đă chọn khi được quư độc giả hiểu và tin tưởng. V́ vậy, tôi viết hồi kư này, kể lại một cách trung thực cuộc đời đầy đau khổ, uất ức và ân hận của tôi khi sống trong chế độ cộng sản, cũng như những nguy hiểm, may mắn khi tôi t́m tự do.... Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn trên nhiều phương diện, lại phải vừa duy tŕ tờ báo, vừa tham gia các sinh hoạt cộng đồng, vừa t́m cách "mưu sinh, thoát hiểm" giữa hàng chục "lằn tên đường đạn", nên hồi kư này có rất nhiều thiếu sót. Kính mong quư độc giả thông cảm bỏ qua, hoặc đóng góp nếu có thể.

 

* * *

 

(Tiếp theo...5)

 

Tôi giật ḿnh tỉnh giấc là lúc bóng tối đă bao trùm lên vạn vật. Bầu trời lấp lánh muôn vạn v́ sao. Sương đêm khiến tôi cảm thấy lạnh. Trong ḷng tôi lúc đó vừa phập phồng lo ngại, sợ hăi, vừa bồn chồn háo hức. Kiến thức và kinh nghiệm của một người lính thông tin cho tôi biết, nếu tôi cắt đường thẳng theo đường chim bay, tôi sẽ đi bộ từ 5 đến 6 tiếng đồng hồ là tới thị xă Quảng Trị. V́ không có đồng hồ, nên tôi ước đoán, lúc đó khoảng 8 giờ tối. Như vậy, tôi sẽ tới thị xă Quảng Trị lúc 2 giờ sáng. Nhưng liệu tôi có đủ may mắn, được đặt chân tới thị xă Quảng Trị hay không? Trong hoàn cảnh chiến tranh, ngọn lửa thù hận được hun đúc, chết chóc xảy ra từng giây, từng phút, làm sao tôi có thể kịp cất tiếng chào, nói một lời thân thiện trước khi tôi bị người lính VNCH bắn gục? Đó là chưa kể tới ḿn bẫy của cả hai bên đă được gài trên những con đường ṃn... Tôi không biết chuyện ǵ sẽ chờ đợi tôi ở vùng ánh sáng đèn điện đầy quyến rũ nhưng cũng ngầm chứa những nguy hiểm bất ngờ. Đứng trên đồi cao, nh́n về thị xă Quảng Trị, tôi đắn đo hồi lâu rồi quyết định, vật đầu tiên tôi phải vất bỏ là chiếc nón cối. V́ nếu tôi tiến về phía "địch" trong đêm tối, th́ dù tôi có không đeo súng ống ǵ đi nữa, bảo đảm, chiếc nón cối sẽ là mục tiêu đầu tiên để những người lính VNCH nhả đạn. Vật thứ hai tôi muốn vứt là chiếc ba lô. Nếu vứt được nó, tôi sẽ bớt nguy hiểm hơn. Nhưng trong ba lô là hơn chục cuốn sách tôi vô cùng yêu quư. Tôi đă mang nó trên suốt đường rừng Trường Sơn. Có nó, tôi luôn luôn cảm thấy ấm áp trong ḷng, v́ mỗi cuốn sách là một gạch nối kỳ diệu giúp tôi thoát khỏi cái thực tại cơ cực đầy nguy hiểm, chết chóc, để tâm hồn, khát vọng của tôi được chắp cánh, bay cao...

 

Sau một hồi suy nghĩ, tôi đành giữ chiếc ba lô và những cuốn sách quư lại. Đeo ba lô vào người xong, tôi nai nịt quần áo, giầy vớ thật gọn gàng, rồi choàng tấm nylon ra ngoài, để che bớt chiếc ba lô. Tôi hy vọng, với tấm nylon choàng bên ngoài, nếu người lính VNCH có trông thấy tôi, họ sẽ có một vài tích tắc ngần ngừ không biết tôi là địch hay ta. Và biết đâu, trong một vài giây đồng hồ lưỡng lự đó, tôi sẽ kịp dơ tay đầu hàng, sẽ kịp nói cho họ biết tôi là ai...

 

Đứng trên đồi cao, tôi nh́n về thị xă Quảng Trị. Muốn tránh được ḿn bẫy và những ổ phục kích của cả hai bên, tôi biết tôi không thể nào đi theo những con đường ṃn. Tôi phải cắt đường, đi theo đường chim bay, cho dù gian nan, cực nhọc và có thể có những nguy hiểm bất ngờ khác.

 

Sau khi định hướng đông tây và t́m một v́ sao làm chuẩn, tôi bắt đầu con đường về với TỰ DO! Trong khoảng ba tiếng đồng hồ sau đó, lúc đi lúc chạy, lúc ḅ lúc nằm, lúc té nhào xuống một hố bom đầy nước lẫn bùn, lúc đụng phải cây, lúc bị dây kẽm gai kéo... tôi âm thầm hăm hở lao về phía trước với tất cả sức mạnh, ư chí, nghị lực của tuổi thanh niên. Có những lúc tôi phải leo qua mấy hàng rào kẽm gai, quần áo rách bươm, tay chân chảy máu. Có lúc tôi phải lội b́ bơm qua những thửa ruộng, bùn dính bê bết. Nhưng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi cũng luôn luôn lấy v́ sao đó làm đích để lao tới. Cả người tôi lúc đó giống như một mũi tên đă rời khỏi cung, bay trong đêm đen, thẳng băng một con đường...

 

Khoảng 3 tiếng sau, tôi đặt chân đến con đường nhựa. Hai bên đường có những hàng cây cao thấp không đều và những cột đèn điện tỏa sáng từng đoạn, từng đoạn. Dọc đường, có những căn nhà của dân, nhưng tất cả đều đóng kín, tối bưng. Tôi ước chừng lúc đó khoảng 11 giờ đêm. Tuy tôi không biết sự pḥng thủ của VNCH như thế nào, nhưng tôi biết, trong t́nh h́nh chiến tranh lúc đó, chắc chắn thế nào cũng có những toán trinh sát, những ổ thám báo, hoặc những ổ phục kích, những  người lính đóng chốt ở một chỗ nào đó dọc theo đường phố. Để bớt nguy hiểm, tôi chọn đi giữa đường, miệng th́ huưt sáo. V́ tôi không quen huưt sáo, nên tiếng sáo của tôi của tôi không to, hơn nữa, huưt sáo như vậy, tôi rất chóng bị mỏi miệng. Sau tôi tính hát, nhưng v́ không biết bài hát nào, nên cuối cùung, tôi đọc to một bài thơ của Nguyễn Bính. Đó là bài thơ "Hoa và Rượu" tôi đă được cô Vinh ở Đồng Văn dậy cho học thuộc ḷng khi tôi c̣n nhỏ. Lúc ấy tôi tin là đi giữa đường, dưới ánh sáng đèn đường, miệng th́ ông ổng đọc một bài thơ, đầu lại không có chiếc nón cối, th́ dù tôi có đánh thức bất cứ người lính VNCH nào, bảo đảm, họ sẽ ngạc nhiên, buồn cười, chứ không thể nào xả súng bắn chết tôi.

 

Tôi quên nói với các bạn một điều quan trọng nữa là tối hôm đó tôi đă cầm que để "ḍ ḿn". Nói ra, quư vị có thể cười cho tôi là thằng ngố, giống như "đồng hồ có cửa sổ" hay "cái nồi ngồi trên cái cốc". Nhưng sự thực lúc đó, tôi rất sợ đụng phải ḿn. Qua chuyện tṛ với những người lính bộ đội trong đơn vị, tôi được họ kể, dọc theo các đường phố, lính VNCH thường hay cài ḿn, với sợi dây dăng ngang đường, thấp dưới đầu gối, một đầu buộc vào kíp hỏa của một quả ḿn định hướng Claymore. Nếu ḿnh đi đụng phải sợi dây, là chỉ một tích tắc sau, cả thân thể sẽ bị vài trăm viên bi ghim đầy, chết không kịp la. V́ vậy, để có thể phát hiện được sợi giây ḿn, tay tôi cầm một chiếc que thật mềm, luôn luôn dơ ra phía trước khoảng một thước mỗi khi tôi bước. Nếu đầu que đụng nhẹ dây ḿn, tôi sẽ biết ngay, và kịp dừng lại, rồi t́m cách bước qua... an toàn. Tối hôm đó, quả thực tôi có cầm chiếc que ḍ ḿn như vậy, nhưng suốt  đường đi, tôi không hề gặp một sợi dây ḿn nào.

 

Đi trên đường phố ngoại ô thị xă Quảng Trị được khoảng nửa tiếng đồng hồ, dần dần tôi thấy nhà cửa san sát hơn, đèn đường cũng mau hơn, mặt đường nhẵn nhụi hơn. Bỗng nhiên, tôi thấy một căn nhà c̣n có ánh đèn thấp thoáng qua khe cửa. Tôi dừng lại suy nghĩ. Trong ḷng tôi lúc ấy, tôi rất ṭ ṃ muốn nh́n xem cuộc sống của một gia đ́nh người Miền Nam như thế nào. Tôi cũng muốn ghé vô một nhà dân, kể lể ngọn nguồn câu chuyện của ḿnh để họ có thể giúp đỡ, đưa tôi đến một đồn lính hay một cơ quan nào đó của chính phủ VNCH, cho tôi đầu hàng. Trong bối cảnh chiến tranh lúc đó, dĩ nhiên, tôi gặp một người dân, bao giờ cũng an toàn hơn bất ngờ gặp một người lính VNCH. Điều quan trọng nữa, tôi muốn đánh đổi bộ đồ bộ đội mà tôi đang mặc. Nếu có được một bộ đồ thường dân mặc vô, đi trong đêm tối để về với VNCH, chắc chắn sẽ an toàn hơn mặc một bộ đồ bộ đội.

 

Bước đến cửa, tôi ghé mắt nh́n qua khe cửa. Và ngay lập tức, những ǵ tôi thấy vào lúc đó, là những h́nh ảnh tuyệt vời ngự trị trong tâm hồn, trí óc tôi suốt mấy chục năm dài. Cho đến những giờ phút của hôm nay, khi viết những ḍng chữ này, h́nh ảnh trong căn nhà tối hôm đó vẫn sống dậy, hiển hiện trước mắt tôi như chuyện mới xảy ra hôm qua, hôm kia....

 

Trong pḥng lúc đó tôi thấy có một thiếu phụ đang ngồi may đồ. Bên cạnh thiếu phụ có một cô bé tuổi chừng 10, 12 tuổi. Nét mặt cô bé rất sáng, cặp mắt đen láy, phản chiếu ánh đèn điện nên càng thêm đen. Người thiếu phụ có một gương mặt thật phúc hậu, nhu ḿ. Chính nét đẹp nhu ḿ, mềm mại của người thiếu phụ đă khiến tôi chẳng c̣n nhớ được điều ǵ ngoài gương mặt. H́nh ảnh hai mẹ con hạnh phúc bên cạnh chiếc máy may trong lúc đêm vào khuya, đă làm tôi thấy tha thiết vô cùng đối với cuộc sống gia đ́nh, yêu thương vô cùng mảnh đất và con người Miền Nam. Đứng trước cái hạnh phúc lung linh đó, tôi thấy ḿnh không nên gơ cửa, không nên bước vô quấy rầy, nhờ vả bất cứ chuyện ǵ. Tôi đứng đó, im lặng trong vài phút, tận hưởng cái h́nh ảnh hạnh phúc êm đềm của hai mẹ con, cái thinh lạnh tinh khiết của đêm khuya tịch mịch, để rồi bồi hồi, xúc động, tôi nhớ lại trong đau đớn, xót xa, cuộc đời muôn phần khổ cực, thiếu thốn của hai mẹ con bà Huệ ở làng Phú Đa, miền Bắc Việt Nam...

 

Từ làng tôi ở đến làng Phú Đa khoảng 3 hay 5 cây số, tôi nhớ không rơ. Ở Phú Đa có nhà thờ rất lớn và là nơi Công Giáo toàn ṭng. Tôi thỉnh thoảng theo thày tôi đến Phú Đa chơi v́ ở đó có một gia đ́nh thông gia với thầy tôi. Con trai của ông lấy chị cả của tôi. Năm 1954, hai vợ chồng đều vô Nam, mở tiệm chụp h́nh ở Biên Ḥa. Làng Phú Đa là một làng giầu có nổi tiếng. V́ vậy nên làng mới có tên đă Phú lại Đa. Gia đ́nh ông thông gia rất giầu có. Nhưng đó là trước 1954. Sau này, cũng giống như thầy tôi, ông cũng bị quy chụp tôi địa chủ, bị đem ra đấu tố. Nhưng v́ mảnh đất Phú Đa là đất Công Giáo toàn ṭng, nên ở đó, ḷng kính yêu Chúa, thương yêu người đă thấm sâu vào mỗi tâm hồn. Nhờ vậy, cơn lốc bất nhân, vô nghĩa, tranh ăn, giành uống, bon chen kèn cực, vu khống tội lỗi cho nhau, do những người cộng sản mang tới, đă không đủ sức làm thay trắng đổi đen những tâm hồn đôn hậu của làng Phú Đa. Vậy nên tuy bị quy tội địa chủ, ông thông gia vẫn sống cuộc sống ung dung, không đến nỗi chật vật.

 

Tại làng Phú Đa tôi có quên một người bạn, và qua người bạn, tôi quen mẹ con bà Huệ. Bà Huệ có chồng là một người đàn ông tài hoa, chữa đồng hồ nổi tiếng khắp vùng. Chẳng may khi cộng sản nắm chính quyền, chúng bắt ông đi cải tạo. Được hai năm, ông mất v́ nhiễm trùng uốn ván khi ông bị thương trong lúc cầy ruộng cho trưởng trại. Ông Huệ chết đi để lại hai người con gái tuổi c̣n nhỏ, và người vợ có gương mặt trầm buồn muôn thuở như những tháng mưa dầm gió bấc của Miền Bắc quê tôi. (C̣n tiếp...)

---------------------------------------------------

[ Trở Vể ]-[ B́nh Luận ]-[ Trang Chính ]

Mục Lục