
Mục Lục
Hồi kư: Tôi T́m Tự Do (Kỳ 25)
Hữu Nguyên SàiGon-Times Úc Châu
LỜI NGỎ: Tôi là Nguyễn Hữu Chí, sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, từng có hơn một năm phải đội nón cối, đi dép râu, theo đội quân Việt Cộng xâm lăng Miền Nam. Trong những năm trước đây, khi cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Úc c̣n minh bạch, lằn ranh quốc cộng c̣n rơ ràng, tôi hoàn toàn tin tưởng và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu, thế lực của cộng sản. Nhưng gần đây, có những dấu hiệu rơ ràng chứng tỏ, những thế lực ch́m nổi của cộng sản tại Úc đang t́m cách xóa bỏ lằn ranh quốc cộng, đồng thời thực hiện âm mưu làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của người Việt hải ngoại. Trong hoàn cảnh đấu tranh ngày càng khó khăn đó, tôi thấy ḿnh chỉ có thể đi tiếp con đường ḿnh đă chọn khi được quư độc giả hiểu và tin tưởng. V́ vậy, tôi viết hồi kư này, kể lại một cách trung thực cuộc đời đầy đau khổ, uất ức và ân hận của tôi khi sống trong chế độ cộng sản, cũng như những nguy hiểm, may mắn khi tôi t́m tự do.... Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn trên nhiều phương diện, lại phải vừa duy tŕ tờ báo, vừa tham gia các sinh hoạt cộng đồng, vừa t́m cách "mưu sinh, thoát hiểm" giữa hàng chục "lằn tên đường đạn", nên hồi kư này có rất nhiều thiếu sót. Kính mong quư độc giả thông cảm bỏ qua, hoặc đóng góp nếu có thể.
Trước khi viết tiếp câu chuyện kỳ trước, tôi xin chân thành kính mong quư độc giả tha lỗi cho tôi v́ trong hai tuần qua tôi đă không thể viết tiếp được phần hồi kư dang dở. Biết như vậy là điều không nên không phải với bạn đọc, nên từ nay, tôi sẽ cố gắng thu xếp thời gian hợp lư hơn, để khỏi phụ ḷng tri kỷ của quư vị.
Trở lại câu chuyện, trên chặng đường trở lại Miền Bắc trong những ngày đầu tiên
sau 30 tháng 4, 1975, qua gặp gỡ đồng bào suốt dọc đường đi, tôi đau xót cảm
nhận được những suy tư thật trái ngược của dân chúng hai miền. Tại Miền Nam, có
những người không hiểu rơ cộng sản, nên họ dễ dàng có thái độ vui mừng đón chào
người lính "giải phóng". Có những người v́ trước đây sống dưới chế độ VNCH, có
những va chạm, hoặc có những mâu thuẫn, xung đột với chính quyền, hoặc do không
hiểu rơ bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam, nên ít nhiều cảm thấy gai mắt
khi chứng kiến cảnh người lính Mỹ trên đường phố của quê hương,... họ dễ dàng
coi sự chiếm đóng của người lính cộng sản là cơ hội để họ đổi đời, để họ t́m
thấy "thiên đường xă hội chủ nghĩa". Ngoài ra, cũng có những người đă từng có
kinh nghiệm về tội ác cộng sản, nhưng đinh ninh từ nay trở đi, với sự chiến
thắng của người cộng sản, đất nước sẽ hết chiến tranh, chồng con sẽ không c̣n
phải đi lính, thôi th́ đói khổ thế nào đi nữa, mà gia đ́nh được đoàn tụ th́ cũng
là điều hạnh phúc. Chính những ước mơ mong manh, những hạnh phúc trước mắt như
vậy đă khiến nhiều người không nhận ra thảm họa mà người cộng sản sẽ gieo rắc
trên quê hương Việt Nam trong những năm tháng tới.
Dĩ nhiên, bên cạnh đó, cũng có những người thực sự hiểu rơ về người cộng sản,
th́ âm thầm t́m mọi cách để ra đi. Đối với họ, những thảm kịch cải cách ruộng
đất thời 1952, 1953, những cuộc thảm sát dành cho những người "dinh T" là những
người từ vùng Việt Minh trốn về thành phố trong giai đoạn 9 năm kháng chiến,
cùng những vụ Việt Minh thanh toán các đảng phái trong quá khứ, chắc chắn không
sớm th́ muộn sẽ tái diễn trên lănh thổ Miền Nam. Với những người này, trong thời
gian chờ đợi cơ hội trốn thoát cộng sản, họ chỉ biết sống gượng, vui giả cho qua
ngày.
Trái lại, ở Miền Bắc, bên cạnh những người say men "chiến thắng" cũng có không
thiếu những người hiểu biết, coi "chiến thắng" của cộng sản là nhát búa cuối
cùng trên nóc quan tài, khâm liệm tất cả những hy vọng mà họ đă ấp ủ suốt mấy
chục năm. Tôi có thể nói, ở Miền Bắc, trong suốt những năm dài kể từ 1954, hầu
hết những người theo đạo Công giáo, Phật giáo, những thành phần trí thức, tư sản,
buôn bán làm ăn, và tất cả những ai đă từng hít thở bầu không khí "thuộc địa
thời Pháp", đều ao ước thiết tha, sẽ có một ngày Miền Nam giải phóng Miền Bắc.
Như tôi đă có lần kể cho quư vị nghe về h́nh ảnh thầy tôi và ông thông gia, cả
hai người đều dí tai vào chiếc radio để theo dơi tin tức từ Miền Nam với niềm hy
vọng lực lượng của Cụ Diệm ở Miền Nam sẽ có ngày "Bắc Tiến". Tôi nhớ những ngày
tháng đó là năm 1957, 1958... Thời đó, người Miền Bắc c̣n thỉnh thoảng nhận được
những tấm bưu thiếp của thân nhân di cư vô Nam. Gia đ́nh của ông thông gia với
thày tôi ở Hà Nội có ba người con trai, th́ hai người đều vô Nam. Người con cả
lấy chị thứ hai của tôi, cả gia đ́nh di cư sống ở Vơ Di Nguy, Phú Nhuận, là nơi
sau này tôi về sống chung cho đến ngày cộng sản chiếm Sàig̣n. Người con trai thứ
hai của ông thông gia đang học y khoa ở Hà Nội vào năm 1954, cũng lên đường vượt
tuyến vô Nam vào năm 1957. Anh này sau được trao quyền đại đội trưởng hay trung
đội trưởng, chỉ huy lực lượng an ninh bảo vệ Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè.
Hồi đó, tôi tuy c̣n bé, chỉ mới 8, 9 tuổi là cùng, nhưng h́nh ảnh ông thông gia,
và thầy tôi ngồi bên cạnh chiếc radio với vẻ mặt gay cấn, ánh mắt lấm lét nh́n
về phía cầu thang, như đang làm điều ǵ vụng trộm, cùng những tiếng th́ thầm của
hai ông, đă khắc sâu vào trí óc của tôi. Chắc quư vị đă biết trong những số báo
trước, tôi đă kể về thầy tôi là một người cha rất nghiêm khắc. Thầy tôi thương
yêu tôi lắm, v́ ngoài t́nh cảm của một người cha dành cho con trong cảnh gá
trống nuôi con, thầy tôi c̣n thương tôi hơn, v́ tôi chào đời trong cảnh loạn
lạc, lớn lên trong sự túng thiếu, cơm không có ăn, áo không có mặc, của cải gia
đ́nh đều mất hết trong thời cải cách. Thương yêu tôi như vậy, nhưng thầy tôi dậy
dỗ tôi như dậy một người lính, quyết uốn nắn tôi trở thành một cây trúc theo
tinh thần "trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng". Chính nhờ sự dậy dỗ của thầy tôi,
mà tôi đă trải qua không biết bao nhiêu nguy hiểm, để sống sót đến hôm nay.
Nhưng cũng v́ sự dậy dỗ đó, tôi lớn lên không có được sự khôn ngoan biết cân
nhắc thiệt hơn của người cầu lợi, biết mềm mỏng thỏa hiệp với đời, nên cuộc đời
tôi gặp không biết bao nhiêu khốn khó. Bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, dù là trên
ghế nhà trường, hay sau này đi bộ đội, tôi luôn luôn là cái gai trong con mắt
của thầy cô giáo và của "thủ trưởng", nên thường xuyên bị trù dập, bị đ́, bị
nhiều thiệt tḥi, oan ức, đau khổ. Vậy mà tôi vẫn tự hào với những đau khổ,
thiệt tḥi đó... thế mới "ngu dại"!
Một trong những kỷ niệm vừa hăi hùng vừa tự hào, đến giờ tôi c̣n nhớ, đó là
chuyện thầy tôi dậy tôi tập bơi. Người khác học bơi th́ học có bài bản, được ôm
cây chuối hay phao bơi đàng hoàng. C̣n tôi học bơi rất đơn giản. Một buổi chiều
mùa hè, tôi lúc đó mới 5, 6 tuổi. Thầy tôi mang theo một cuộn dây thừng rồi dắt
tôi ra bờ sông Châu. Đến bờ sông, thầy tôi lấy dây thừng quấn giẻ trước khi quấn
hai ṿng vào thắt lưng của tôi rồi thắt nút lại. Tôi chưa kịp hiểu thầy tôi làm
vậy để làm ǵ, th́ thầy tôi đă nhấc bổng tôi trên tay, rồi ném thẳng tôi xuống
sông. Kinh hoàng quá, tôi vừa khóc vừa la hét, vừa uống nước sặc sụa, chân tay
th́ đập loạn xạ. Được một chút, thầy tôi kéo dây thừng, lôi tôi lên khỏi mặt
nước cho tôi thở một hồi, rồi lại vứt tôi xuống nước tiếp, mặc cho tôi khóc lóc,
lậy van, vang cả một góc sông. Cứ như vậy, chỉ trong có một buổi chiều hôm đó,
tôi đă biết bơi, và sau này tôi bơi rất giỏi, vừa nhanh lại vừa dai sức. Nhưng
v́ ngay thuở ban đầu không được học bơi đàng hoàng, nên tôi chỉ biết bơi kiểu
"bơi chó". Sau này lớn lên, đi học, thấy tôi bơi nhanh, lại bơi xa cả vài cây
số, nên nhà trường chọn tôi vào đội bơi và huấn luyện thật kỹ càng. Nhưng v́ đă
quen "bơi chó" ngay từ đầu, và "bơi chó" trong lúc tâm thần hoảng hốt, nên dù
học thế nào th́ học, tôi vẫn không tài nào bơi sải đúng kiểu. Cặp gị của tôi
không tài nào đập theo chiều thẳng đứng lên xuống theo kiểu bơi sải, mà chỉ co
vào duỗi ra giống hệt chân chó. Kết quả, tôi chỉ có thể học được kiểu bơi ếch,
và bơi rất nhanh, nên thời đó, sau cuộc thi bơi của tỉnh, tôi đă được bạn bè
tặng cho cái biệt hiệu là "con ếch vàng".
Tôi hơi dài ḍng kể lại kỷ niệm trên đây để quư vị thấy, thầy tôi là một người
cha nghiêm khắc, dậy dỗ con để đối phó với sóng gió đường đời. Quả nhiên, sau
này, trên đường đi chiêu hồi, hay khi vượt ngục, vượt biên, tôi lúc nào cũng tự
tin vào khả năng của ḿnh, gặp tường cao th́ trèo, gặp sông biển th́ lội, lúc
th́ nhảy tàu, nhảy xe; khi nào bị dồn vào đường cùng, thập phần nguy hiểm, th́
tôi quyết lào vào chỗ chết để t́m ra cái sống. Trải qua không biết bao nhiêu khó
khăn, lúc nào tôi cũng thấy có sự hiện diện vô h́nh của thầy tôi ở trên cao. Và
tôi nghiệm ra một chân lư, khó khăn dù có lớn lao đến đâu, nếu quyết chí và can
đảm lao về phía trước, tôi cũng sẽ vượt qua.
Trong suốt những năm dài, sống bên cạnh người cha nghiêm khắc, bỗng dưng một
ngày nọ, tại nhà ông thông gia ở Hà Nội, từ dưới cầu thang chạy lên lầu, tôi
giật ḿnh trông thấy thầy tôi và ông thông gia đang lén lút nghe radio. Chuyện
lén lút không làm tôi để ư, nhưng v́ khi thấy tôi đột ngột xuất hiện, cả thầy
tôi lẫn ông thông gia đều hoảng hốt. Lần đầu tiên, tôi thấy sự sợ hăi của thầy
tôi. Lúc đó, làm sao tôi hiểu được lư do khiến thầy tôi sợ hăi. Măi sau này, tôi
mới hiểu, th́ ra thầy tôi và ông thông gia đang nghe lén radio trong niềm kỳ
vọng, "lính của Cụ Diệm sẽ Bắc tiến"...
Từ ngày đó cho đến mấy chục năm sau này, cái h́nh ảnh thầy tôi và ông thông gia
lén lút nghe radio cứ ăn sâu vào trong tâm trí của tôi, khiến tôi bứt rứt không
yên. Tại sao những người tôi kính trọng, và có thể nói lúc nào tôi cũng sợ hăi,
lại có những lúc làm những việc lén lút, để rồi sợ hăi một đứa con nít khi bị
phát hiện? Và tôi nghiệm ra một điều rất đơn giản, một người khi đă lén lút làm
một chuyện ǵ, th́ người đó rất dễ trở nên mong manh, yếu đuối.
Khi đi quá giang xe trên chặng đường ra Hà Nội, chúng tôi không ngờ bị chính
người tài xế gốc thiểu số bán đứng cho một đơn vị tuần tiễu tại thị xă Đồng Hới.
Lúc đoàn xe dừng lại tại trạm kiểm soát, mọi người được lệnh mang tất cả hành lư
ra khỏi xe để lực lượng vệ binh lên xe kiểm soát. Vào thời điểm đó, lực lượng
công an của cộng sản chưa được điều động vô các tuyến đường ở Miền Trung và Miền
Nam. V́ vậy, mọi kiểm soát giao thông, quan thuế, dân sự cũng như quân sự tại
các tỉnh từ Bố Trạch, Đồng Hới, Quảng Trị, vô đến Miền Nam đều thuộc quyền hạn
của các đơn vị vệ binh, trực thuộc ban quân pháp của bộ quốc pḥng Hà Nội.
Vừa xuống xe, chúng tôi c̣n đang xếp hàng, th́ một tay vệ binh đeo súng ngắn
cùng một tên khác đeo khẩu AK-47 ngang ngực, tiến về phía chúng tôi. Nh́n cách
thức tên vệ binh đeo khẩu AK, tôi có linh cảm điềm không lành. Quả nhiên, tên vệ
binh đeo súng ngắn, nói giọng trọ trẻ Quảng B́nh:
- Ba đồng chí này mang ba lô theo tôi.
Nói xong, tên vệ binh quay lưng đi về phía trạm kiểm soát thứ hai ở bên kia
đường, cách nơi xe đậu khoảng 200 thước. Tên vệ binh đeo khẩu AK đứng đó, lạnh
lùng nh́n chúng tôi, không nói một tiếng. Ba đứa chúng tôi chẳng nói chẳng rằng,
thở dài, khoác ba lô, rồi lần lượt đi theo tên vệ binh. Tuy không quay đầu lại,
chúng tôi biết, tên vệ binh AK cũng đi theo, khoảng cách vừa đủ xa. Trông kiểu
cách đề pḥng chúng tôi một cách lộ liễu của hai tên vệ binh, tôi lo ngại nghĩ,
chẳng lẽ tụi này đă phăng ra tung tích của chúng tôi rồi hay sao? (C̣n tiếp...)
|
[ Hữu Nguyên (SGT Úc Châu) ]-[ B́nh Luận ]-[ Trang Chính ] |
Mục Lục