Mục Lục

 

Hồi kư: Tôi T́m Tự Do (Kỳ 23)

 Hữu Nguyên SàiGon-Times Úc Châu


 

LỜI NGỎ: Tôi là Nguyễn Hữu Chí, sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, từng có hơn một năm phải đội nón cối, đi dép râu, theo đội quân Việt Cộng xâm lăng Miền Nam. Trong những năm trước đây, khi cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Úc c̣n minh bạch, lằn ranh quốc cộng c̣n rơ ràng, tôi hoàn toàn tin tưởng và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu, thế lực của cộng sản. Nhưng gần đây, có những dấu hiệu rơ ràng chứng tỏ, những thế lực ch́m nổi của cộng sản tại Úc đang t́m cách xóa bỏ lằn ranh quốc cộng, đồng thời thực hiện âm mưu làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của người Việt hải ngoại. Trong hoàn cảnh đấu tranh ngày càng khó khăn đó, tôi thấy ḿnh chỉ có thể đi tiếp con đường ḿnh đă chọn khi được quư độc giả hiểu và tin tưởng. V́ vậy, tôi viết hồi kư này, kể lại một cách trung thực cuộc đời đầy đau khổ, uất ức và ân hận của tôi khi sống trong chế độ cộng sản, cũng như những nguy hiểm, may mắn khi tôi t́m tự do.... Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn trên nhiều phương diện, lại phải vừa duy tŕ tờ báo, vừa tham gia các sinh hoạt cộng đồng, vừa t́m cách "mưu sinh, thoát hiểm" giữa hàng chục "lằn tên đường đạn", nên hồi kư này có rất nhiều thiếu sót. Kính mong quư độc giả thông cảm bỏ qua, hoặc đóng góp nếu có thể.

 


 

(Tiếp theo...)

 

Ngay khi được đặt chân lên Miền Nam Tự Do, cảm tưởng đầu tiên của tôi là Miền Nam nhất định sẽ thắng Miền Bắc. Nh́n vào sức mạnh quân sự của VNCH và những căn cứ quân sự khổng lồ của Mỹ để lại ở Đà Nẵng lúc đó, tôi tin tưởng mănh liệt, cộng sản Bắc Việt sẽ thảm bại. Nhưng trong những năm tiếp theo, tôi dần dần cảm thấy chính sự tự do của Miền Nam khiến cho sức chiến đấu chống cộng sản xâm lăng, của Miền Nam bị suy giảm. Quyền tự do cá nhân của người dân Miền Nam quá lớn so với người dân Miền Bắc. Trong một xă hội dân chủ thời b́nh, đó là một đặc tính ưu việt. Nhưng trong chiến tranh, điều đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự đoàn kết của quân dân đằng sau vị nguyên thủ quốc gia. Đúng ra, nếu đem so sánh đời sống tinh thần, vật chất, tính nhân bản, cùng những giá trị văn hóa của người dân hai miền Nam Bắc, nhiều người đă có lư khi cho rằng, trong cuộc chiến tranh Việt Nam, thà thua trận mà được làm người dân Miền Nam, c̣n sung sướng hạnh phúc hơn là thắng trận mà phải làm người dân Miền Bắc.

 

Quả thực, sống ở Miền Nam tôi nhận ra, một xă hội có văn hiến, mọi người sống có t́nh nghĩa, biết yêu thương đồng loại, trân trọng những giá trị tinh thần, một khi phải đối diện với một kẻ thù tàn nhẫn, xảo quyệt, bất lương, chỉ biết tôn thờ sức mạnh, và coi ṇng súng là lẽ phải, làm sao xă hội có văn hiến đó có thể chiến thắng?

 

Trong suốt thời gian chiến tranh cũng như sau chiến tranh, phải vô các trại cải tạo, phải chứng kiến những tội ác man rợ của cộng sản, những sự tàn nhẫn bất lương, thủ đoạn lường gạt, đầy tráo trở của cán bộ, quản giáo, từ người già đến người trẻ, từ cấp cao đến cấp thấp trong chế độ cộng sản, nhiều người Miền Nam đă thẳng thắn thừa nhận: Người cộng sản đểu giả quá. Ḿnh không thể nào thắng họ được. Thà chấp nhận thua họ, chứ đểu như họ để có thể thắng họ th́ ḿnh không làm được.

 

Trong chiến tranh Việt Nam, một trong những điều bạc ác, bất nhân, thất đức nhất của người cộng sản là chiến tranh du kích. Sự thực, chiến tranh du kích là đường lối chiến thuật được kẻ yếu áp dụng để đối phó với kẻ thù mạnh. Đặc tính của một cuộc chiến tranh du kích thuần túy là người du kích tấn công đối phương vào lúc bất ngờ để giành tối đa hiệu quả chiến đấu, giết được nhiều kẻ thù nhất, ít thiệt hại về nhân mạng và vũ khí, đạn dược nhất. Trong lịch sử chiến tranh thế giới cũng như Việt Nam, chiến tranh du kích được áp dụng tại nhiều nơi, nhiều lúc và không ai đặt câu hỏi về sự phi nhân của chiến tranh du kích. Tuy nhiên, đối với cộng sản Việt Nam, chiến tranh du kích không phải là đường lối chiến thuật thuần tuư mà là cả một h́nh thức vận động chiến tàn ác, với thủ đoạn, khai thác tối đa sự hiện diện của thường dân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và ông bà già, vào cuộc chiến để làm bia đỡ đạn. Bằng cách trà trộn với thường dân, tấn công đối phương, cộng sản Việt Nam đạt được ba mục tiêu. Thứ nhất, tiếp cận và tấn công đối phương nhanh chóng bất ngờ. Thứ hai, qua những thương vong không tránh khỏi cho thường dân, CS thổi bùng ḷng hận thù trong ḷng họ. Thứ ba, mỗi khi thường dân bị chết, cộng sản sẽ dùng xác thường dân để tuyên truyền, quy chụp tội ác chiến tranh cho đối phương. Thứ tư, gây ác mộng và khủng hoảng tâm lư triền miên cho đối phương.

 

Tham chiến tại Việt Nam, một người lính VNCH, hay người lính Mỹ, lính đồng minh nói chung, đều mang vô cuộc chiến tinh thần thượng vơ, cùng những giá trị nhân bản và văn hóa mà họ đă thu thập được trong nhà trường, ngoài xă hội... Nhưng một khi trận chiến bùng nổ, trong cảnh súng đạn tơi bời, tính mạng bị nguy hiểm, đồng đội chiến hữu thân yêu nhất bên cạnh lần lượt bị hy sinh, trong khi kẻ thù lại ẩn nấp trong dân, không chịu lộ diện, th́ sự b́nh tĩnh, tỉnh táo của người lính luôn luôn có giới hạn. Hậu quả, một khi có những thảm kịch như thảm kịch Mỹ Lai xảy ra, mọi người đều dí tay vào trán những người lính Mỹ, mà quên mất, chính những người cộng sản Việt Nam mới là chánh phạm cố t́nh cố ư sắp đặt để tạo nên những thảm kịch đó một cách có hệ thống và chủ trương.

 

TÔI MẤT TỰ DO!

 

Được sống dưới vùng trời tự do không đầy 4 năm, th́ cả Miền Nam bước vào biến cố 30-4-1975. Thời gian đó, tôi đang sống trong một căn pḥng nhỏ thuộc Bộ Thông Tin Chiêu Hồi ở 272 Hiền Vương. Trong những tuần lễ cuối cùng của tháng 4, ông Trần Trường Khanh có cho tôi một địa chỉ ở Cần Thơ và lời nhắn nhủ, hăy về đó cố thủ!

Trước những tin tức ngày càng bất lợi, hầu hết anh em thuộc thành phần chiêu hồi đều lo lắng. Ai cũng biết, một khi Sàig̣n thất thủ, thành phần chiêu hồi sẽ bị cộng sản trả thù khủng khiếp nhất, nếu không bị xử bắn th́ cũng bị tù chung thân. V́ vậy, những anh em có gia đ́nh đều lần lượt t́m cách ra đi. Riêng tôi, trong suốt những năm tháng sống ở Miền Nam Tự Do, h́nh ảnh người cha già lưng c̣ng, râu tóc bạc phơ, lúc nào cũng nhường cơm xẻ áo, thương yêu đùm bọc tôi trong muôn vàn nỗi cơ cực thiếu thốn, luôn luôn hiện về như một ám ảnh thường trực... Cùng với h́nh ảnh người cha già, tôi c̣n không biết bao nhiêu niềm ân hận, nỗi xót xa, về những tội lỗi của tôi khi tôi đối xử với cha tôi như một người "địa chủ tàn ác có tội với nông dân". Chính trong niềm ân hận sâu xa đó, tôi muốn được trở về Miền Bắc, được gục vào ḷng cha già để được khóc, được thổn thức nói: "Con Xin Lỗi Cha!"

 

Tôi cũng muốn về Hà Nội, để được gặp lại người mẹ muôn vàn đau khổ của tôi. Trong suốt thời gian 20 năm sống ở Miền Bắc, tôi chỉ ghé thăm mẹ tôi hơn chục lần vào dịp tết nhất hay nghỉ hè. Những lần gặp gỡ đó, tôi ít có khi nào chịu ngồi hàn huyên tâm sự với mẹ. Tôi có một tính xấu trong suốt cuộc đời là mê đọc sách. Bất cứ khi nào, hễ rảnh một chút là cầm quyển sách, tờ báo. V́ vậy, mỗi khi lên thăm mẹ, tôi bao giờ cũng mang theo một vài quyển sách, hay ra tiệm cho thuê sách, mướn sách về coi. Sách vở mang đến cho tôi kiến thức, niềm vui, nhưng sách vở cũng khiến cho cuộc đời tôi thêm cô độc. Buông quyển sách đang coi, trong vài chục phút, có khi vài tiếng đồng hồ sau, tâm trí của tôi vẫn c̣n luẩn quẩn bên cạnh cuộc đời của các nhân vật trong sách. Tôi biết mẹ tôi thương tôi lắm. Tôi cũng thương mẹ tôi vô cùng v́ tôi biết, trong thâm tâm, mẹ tôi vẫn buồn buồn với mặc cảm lỗi lầm, đă đẻ tôi ra mà không chịu nuôi tôi... Nhưng qua câu chuyện của thầy tôi sau này, tôi hiểu, mẹ tôi không hề có lỗi ǵ. Không những thế, trong hoàn cảnh mới sanh ra tôi, mẹ tôi đă trải qua những nỗi đau khổ chất ngất của một người mẹ bị cướp mất con ngay tại bệnh viện Bạch Mai, và bị đuổi khỏi nhà sau đó...

 

Thời gian sau này, sau khi được gặp lại mẹ, tôi có ghé thăm mẹ, có cùng mẹ đi chùa, và về quê ngoại ở núi Đọi Đệp ngay cạnh sông Châu. Trong những lần đó, tôi vừa muốn nũng nịu để được mẹ nuông chiều, lại vừa ngại ngùng xa cách. Một người con trai 15, 16 tuổi, xa mẹ suốt cả thời gian 15, 16 năm, làm sao có thể ôm ấp mẹ một cách thân mật, đằm thắm trong t́nh mẫu tử như mẹ con của những người khác... Ngày xưa, khi sống gần mẹ lúc tôi chưa đầy 20, nên c̣n ngây thơ, ham vui và cư xử thiếu suy nghĩ. Nhưng trong những năm tháng được sống ở Miền Nam, qua sách vở, phim ảnh, và t́nh người, tâm hồn tôi được bồi đắp, t́nh cảm tôi được vui xới, nên dần dần tôi nhận ra những t́nh cảm thiêng liêng con người cần phải ấp ủ, trong đó có t́nh mẹ con, t́nh cha con. Tôi biết, trên chặng đường trở về Bắc, tôi sẽ đối diện với rất nhiều nguy hiểm. Nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận tất cả, để đánh đổi những giây phút hạnh phúc được gặp cha gặp mẹ.

Tại Trung Tâm Hiền Vương lúc đó có anh bạn cũng chiêu hồi, lái xe cho ông Bùi Công Tương, Chánh Sở Tuyên Vận. Chiều 28, hay 29 tháng 4 năm 1975, tôi không nhớ rơ, anh ghé pḥng tôi, rủ tôi ra bến Bạch Đằng để t́m được đi. Tôi từ chối, nhưng không nói rơ lư do tôi sẽ về Bắc. Sau đó, anh về pḥng của anh mang sang cho tôi một bọc tiền, không hiểu anh lấy từ đâu. Ngay chiều hôm đó, chúng tôi chia tay. Từ đó đến nay, tôi không nghe được tin tức ǵ về anh.

 

 

Hai hôm trước đó, chị Tuyên, cũng là xướng ngôn viên cho Bộ Chiêu Hồi, có ghé thăm tôi và dục tôi t́m đường đi, đừng dại dột ở lại để cộng sản bắt. Trước đó, ngày 25, anh Hải, người Hải Dương, làm cho hội từ thiện Hoàn Cầu Khải Tượng cũng đến nhà ông anh rể ở Vơ Di Nguy Phú Nhuận rủ tôi đi, nhưng tôi từ chối. Với anh Hải, tôi nói thật ư định sẽ về Bắc của ḿnh.

 

V́ sống với cộng sản 20 năm, quá đủ để tôi hiểu về con người cùng chế độ cộng sản. V́ vậy, ngay khi cộng sản chiếm đóng Sàig̣n ngày 30-4-1975, th́ ngày 3-5-1975, tôi lên đường trở lại Miền Bắc cùng với người bạn tên B́nh. Để có thể qua mặt các trạm kiểm soát trên đường về Bắc, cả hai chúng tôi đều đóng vai bộ đội với đầy đủ quân phục, nón cối, dép râu và giấy tờ. Tất cả những thứ này do B́nh mua lại từ một tay bộ đội thuộc loại "lao công đào binh" gốc Hải Pḥng.

Sàig̣n lúc đó, tuy vừa trải qua cơn ác mộng binh lửa do người cộng sản mang lại, nhưng cùng với viễn ảnh đất nước từ nay không c̣n chiến tranh, nên người dân Sàig̣n vẫn c̣n rất thích giúp đỡ bộ đội. Thêm vào đó, trong những ngày đầu tiên mới đặt chân lên đường phố Sàig̣n, những người bộ đội vẫn c̣n ngây ngô, ngốc nghếch trước những ṭa cao ốc, những đường phố nhộn nhịp xe cộ, và đời sống sầm uất của Sàig̣n. V́ vậy, trong bộ quần áo bộ đội, với kinh nghiệm và vốn sống của những người đă sống ở Sàig̣n mấy năm, chúng tôi dễ dàng qua mắt tất cả những người bộ đội của đoàn quân viễn chinh cộng sản Miền Bắc.

 

Chặng đường đầu tiên của chúng tôi từ Sàig̣n đi Nha Trang bằng xe đ̣ thật êm ả. Từ lơ xe, đến tài xế, hành khách trên xe, đều có thái độ vừa vui vẻ lại vừa có chút ngại ngùng đối với dân nón cối dép râu. Trên đường đi, tuy có các trạm kiểm soát của bộ đội, nhưng chúng tôi đều qua mặt dễ dàng. Đến Nha Trang, chúng tôi ghé vô một tiệm ăn, tính ăn uống xong, sẽ kiếm khách sạn ngủ tạm một đêm, chờ hôm sau đáp xe đ̣ đi tiếp chặng đường ra tới Quảng Trị. Đoạn đường gay go là từ Quảng Trị ra Đồng Hới lúc đó chưa có xe đ̣. Chúng tôi  hy vọng, sẽ quá giang xe quân sự trên chặng đường này.... (C̣n tiếp...)


 

[ Hữu Nguyên (SGT Úc Châu) ]-[ B́nh Luận ]-[ Trang Chính ]

Mục Lục