Mục Lục

 

Hồi kư: Tôi T́m Tự Do (Kỳ 21)

 Hữu Nguyên SàiGon-Times Úc Châu


 

LỜI NGỎ: Tôi là Nguyễn Hữu Chí, sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, từng có hơn một năm phải đội nón cối, đi dép râu, theo đội quân Việt Cộng xâm lăng Miền Nam. Trong những năm trước đây, khi cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Úc c̣n minh bạch, lằn ranh quốc cộng c̣n rơ ràng, tôi hoàn toàn tin tưởng và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu, thế lực của cộng sản. Nhưng gần đây, có những dấu hiệu rơ ràng chứng tỏ, những thế lực ch́m nổi của cộng sản tại Úc đang t́m cách xóa bỏ lằn ranh quốc cộng, đồng thời thực hiện âm mưu làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của người Việt hải ngoại. Trong hoàn cảnh đấu tranh ngày càng khó khăn đó, tôi thấy ḿnh chỉ có thể đi tiếp con đường ḿnh đă chọn khi được quư độc giả hiểu và tin tưởng. V́ vậy, tôi viết hồi kư này, kể lại một cách trung thực cuộc đời đầy đau khổ, uất ức và ân hận của tôi khi sống trong chế độ cộng sản, cũng như những nguy hiểm, may mắn khi tôi t́m tự do.... Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn trên nhiều phương diện, lại phải vừa duy tŕ tờ báo, vừa tham gia các sinh hoạt cộng đồng, vừa t́m cách "mưu sinh, thoát hiểm" giữa hàng chục "lằn tên đường đạn", nên hồi kư này có rất nhiều thiếu sót. Kính mong quư độc giả thông cảm bỏ qua, hoặc đóng góp nếu có thể.

 


 

Được chuyển về Trung tâm chiêu hồi Thị Nghè, tôi thấy có rất nhiều chuyện vui mừng, hạnh phúc và nhiều điều lạ lùng. Giống như một anh Mán từ núi xuống đồng bằng, một thằng ngố từ rừng vô thành phố, tôi ngỡ ngàng trước cả một thế giới đầy mới lạ, một cuộc sống náo nức, nhộn nhịp vô cùng. Điều tôi thấy lạ lùng nhất là sự canh pḥng hết sức chểnh mảng đối với tất cả mọi hồi chánh viên. Tôi không biết, trong số những hồi chánh viên t́m tự do (bộ đội Miền Bắc), cũng như những hồi chánh viên trở lại với chánh nghĩa quốc gia (bộ đội, du kích Miền Nam), có ai là hồi chánh giả khiến chính phủ VNCH phải đề pḥng hay không, nhưng tôi thấy, ít nhất là bề ngoài, quân cán chính của chính phủ VNCH làm việc tại Trung tâm, không hề có bất cứ sự nghi ngờ ǵ đối với bất cứ hồi chánh viên nào.

 

Tại Trung Tâm thời đó cũng có hàng rào bao bọ chung quanh. Cổng ra vô luôn luôn có lính gác. Cả Trung Tâm có một trung đội lính thay phiên nhau bảo vệ an ninh, nhưng tất cả mọi hồi chánh viên đều được ra vô tự do, ai muốn đi đâu th́ đi, và đi bao lâu rồi về cũng được. Thậm chí, có nhiều người vào dịp cuối tuần đi luôn mấy đêm rồi về cũng không thấy ai trong ban Giám Đốc Trung tâm chất vấn, hỏi han, hay thắc mắc ǵ. Đối với anh em hồi chánh viên Miền Nam, thường họ có thân nhân họ hàng tại Sàig̣n, hay tỉnh lẻ, nên họ hay đi ra ngoài. Riêng chúng tôi, những hồi chánh viên Miền Bắc, th́ lại rất ngại đi ra ngoài. Phần không biết đường xá, lại không quen phong tục, tập quán của Miền Nam, phần sợ cộng sản trả thù, nên chúng tôi chỉ tụ tập chơi bài, đọc sách hoặc xem TV trong một quán ăn nhỏ nằm cạnh thư viện của Trung tâm.

 

Trung tâm chiêu hồi Thị Nghè nằm ngay cạnh sông Sàig̣n. Bên kia sông là sở thú, nên ngày ngày, trông sang sở thú, chúng tôi thấy không biết bao nhiêu trai thanh gái lịch đi lại tha thướt. Cuộc sống thật vô cùng êm đềm và hạnh phúc. Thấy như vậy, chúng tôi lại càng thương xót cho những người dân khốn khổ ở Miền Bắc, đă sống vật lộn từng ngày từng giờ, lại đói khát, thiếu thốn trăm bề, hạnh phúc gia đ́nh chẳng có, lại phải luôn luôn giả dối đối từ người ngoài, đến người trong nhà, thậm chí giả dối với ngay cả bản thân.

 

Một trong những h́nh ảnh tạo cho chúng tôi nhiều xao xuyến, thao thức nhất khi mới đặt chân lên mảnh đất Miền Nam là h́nh ảnh tà áo dài trắng của nữ sinh Miền Nam. Sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, chúng tôi chỉ nghe, chỉ đọc và chỉ thấy những tà áo dài trong sách vở, tranh ảnh, th́ làm sao hiểu được "tà áo dài đẹp nhờ nó có gió". C̣n ở ngoài đời th́ cả năm, may mắn trong ngày tết, ngày lễ, chúng tôi mới có dịp trông thấy tà áo dài.... loại áo tứ thân của mấy bà già, cùng với chiếc ruột tượng quấn ngang thắt lưng. Những chiếc áo dài đó, không nói quư vị cũng đủ hiểu, là những chiếc áo vá chằng và đụp, đủ màu sắc khác nhau. Ngay cả cả những chiếc áo dài lành lặn, th́ màu sắc héo úa, cùng tà áo nhăn nhúm, không một lần được giặt ủi, dù có "quấn quít" theo bước chân của những bà già, th́ làm sao có thể tạo cho chúng tôi được những rung động chân thành, những thao thức trăn trở như những tà áo dài trắng....

 

Tôi không biết có lẩn thẩn hay đần độn ǵ không, nhưng kể từ khi đặt chân vô Miền Nam, nh́n thấy tà áo dài trắng của nữ sinh Miền Nam, tôi dám chắc một điều, suốt 20 năm ở Miền Bắc, tôi chưa bao giờ được nh́n thấy tà áo dài trắng.

 

Ngay bên hông Trung tâm chiêu hồi Thị Nghè lúc đó có một dẫy phố nho nhỏ. Cứ mỗi buổi sáng, chúng tôi đứng trong sân, chiêm ngưỡng những cô nữ sinh Miền Nam e thẹn trong tà áo dài trắng, cắp cặp đi học, người đi bộ, người đi xe đạp, có người đi Honda... là chúng tôi đủ thấy hạnh phúc tuyệt vời. Ngày đó, tôi nhớ ḿnh đă ngoài 20 tuổi, đă hết ngây thơ, hết hồn nhiên của tuổi mộng mơ, vậy mà khi nh́n những cô nữ sinh mặc áo dài trắng đi học, tôi cứ ngây ngây ngô ngô nghĩ những cô nữ sinh đó không thể nào là "người trần gian".

 

Tôi c̣n nhớ một kỷ niệm tuyệt vời về một tà áo dài trắng, trong những ngày tháng khi mới đặt chân lên vùng đất tự do. Khi tôi c̣n ở trong Phủ Đặc Ủy T́nh Báo Trung Ương, có một cô làm việc trong đó vốn là người Hà Nam, Phủ Lư, nên cô quen biết với gia đ́nh bà chị của tôi. Nhờ cô giúp đỡ, nên tôi đă nhanh chóng t́m gặp được tất cả 4 bà chị ở Miền Nam, trong đó có một bà ở Vơ Di Nguy, Phú Nhuận, hai bà ở Vũng Tàu, một bà ở Biên Ḥa. Mỗi tuần, vào chiều thứ sáu, hoặc chiều thứ bảy, tôi lại đi xe lam từ Thị Nghè về Vơ Di Nguy qua ngả Bà Chiểu để thăm bà chị. Trong một chuyến xe lam về Vơ Di Nguy thăm chị vào một buổi chiều thứ bảy, tôi được cái may mắn ngồi đối diện một cô nữ sinh mặc áo dài trắng... trên suốt chặng đường từ Thị Nghè đến Lăng Ông, Bà Chiểu. Trong chiếc xe lam chật chội, tối tăm vào buổi chiều hôm đó, nhờ tà áo dài trắng nên tôi thấy trong xe sáng hẳn lên. Tuy kỷ niệm chỉ đơn sơ và vỏn vẹn có bấy nhiêu thôi, nhưng chẳng hiểu sao suốt bao nhiêu năm trôi qua, trải qua bao nhiêu sóng gió, hiểm nguy sinh tử của một đời người, cho đến nay tôi vẫn nhớ đến h́nh ảnh tà áo dài trắng vào buổi chiều hôm đó trong những rung động thanh cao, tinh khiết...

 

Thế mới biết, trong cuộc sống thường nhật của mỗi chúng ta, nhiều khi chỉ một nụ cười, một ánh mắt, một tà áo dài, một mái tóc, một bờ vai gầy hay có khi chỉ là một nhân dáng khi đứng, khi đi, khi ngồi,... cũng để lại cho ḷng ḿnh một niềm hạnh phúc măi măi ngân nga, để rồi kỷ niệm đó măi măi tươi trẻ xuyên suốt cùng năm tháng, bất kể thời gian, bất chấp không gian và sự ch́m nổi, sướng khổ của mỗi đời người...

 

Nhưng kỷ niệm về tà áo trắng trên mảnh đất Miền Nam đối với tôi chẳng phải chỉ có bấy nhiêu. Sau này, được đọc những vần thơ trong bài thơ Áo Lụa Hà Đông của Nguyên Sa; Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư; rồi được nghe những bài hát của Trịnh Công Sơn, của Phạm Duy,... tôi mới thấy chính cuộc sống tự do, giầu t́nh cảm, đậm đà văn hiến của người dân Miền Nam đă giúp cho ngôn ngữ Việt Nam, giá trị thẩm Mỹ của người Việt Nam, cùng tâm hồn của người Việt Nam vươn tới những chân trời mới, khiến cuộc sống của mỗi người trở nên hạnh phúc hơn, thi vị hơn, đáng sống hơn.

 

Tiếc rằng, nếu cái tâm hồn đậm đà thi vị, bát ngát t́nh người của người Hà Nội cách đây nửa thế kỷ đă bị mai một cùng với bước chân "tiếp quản thủ đô" của người bộ đội vào năm 1954, th́ từ năm 1975 cho đến nay, tại Miền Nam, cái đằm thắm t́nh người ấy, cái đậm đà văn hiến ấy của người dân Miền Nam cũng đă bị tàn phá cùng với xích sắt xe tăng của người bộ đội Miền Bắc khi CS chiếm được Miền Nam.

 

Cũng giống như không biết bao nhiêu thi sĩ tài hoa trên đất Bắc, sau khi cộng sản cưỡng chiếm được một nửa nước vào năm 1954, bỗng một sớm một chiều thấy cạn ḍng cảm hứng, thấy ḿnh hết thành tiên, thành thánh; sau 1975, không biết bao nhiêu thi sĩ, văn nhân tài hoa của Miền Nam, cũng dần dần ch́m sâu vào cuộc sống tem phiếu, vật chất, bon chen, kèn cựa lừa lọc giữa ḍng đời, để rồi một ngày nào đó, bỗng nhiên nhận ra, những vần thơ, bản nhạc tuyệt vời do ḿnh sáng tác ngày nào, bây giờ chỉ c̣n là những phút giây xuất thần măi măi ch́m trong quá khứ. Sự thực, cùng với sự chiếm đóng của cộng sản, rất ít những bài thơ hay, những bản nhạc hay được sáng tác tại Miền Bắc sau năm 1954, cũng như tại miền Nam sau 1975. Đó là sự thực đau ḷng cho dân tộc Việt Nam...

 

*

 

Vào một buổi chiều, đang thơ thản chơi ở sân Trung tâm Chiêu hồi Thị Nghè, th́ anh Lộc, một người gốc Hà Nội, đă về chiêu hồi trước tôi mấy năm, đang làm thuyết tŕnh viên cho Bộ Chiêu Hồi, ghé chơi và giới thiệu tôi với ông Đại uư Hiệu, người phụ trách một số chương tŕnh phát thanh t́nh báo, địch vận của VNCH trong đó có đài Gươm Thiêng ở bên Cư Xá Thành Tín, ngay góc đường Hồng Thập Tự và Nguyễn Bỉnh Khiêm th́ phải. V́ đă lâu, nên tôi không c̣n nhớ chính xác. Nếu có sai sót, mong quư vị bỏ qua.

 

Trong dịp tṛ chuyện với Đại uư Hiệu, ông yêu cầu tôi viết bài rồi chính tôi đọc bài ḿnh viết trên đài phát thanh. Tôi vui vẻ nhận lời, v́ trong thâm tâm, tôi muốn nói cho tất cả bạn bè, thân nhân của tôi ở Miền Bắc biết về bộ mặt thật của cộng sản, biết về sự thật đời sống sung túc, tự do hạnh phúc của người dân Miền Nam, biết họ đă bị cộng sản lừa bịp một cách trắng trợn. Thấy tôi vui vẻ nhận lời, ông Hiệu rất mừng. Ông cũng cho tôi biết, tốt nhất, khi viết bài, tôi nên dùng tên thật. Ông hỏi tôi có ngại ngùng ǵ khi dùng tên thật của ḿnh lúc viết bài, cũng như khi đọc bài trên đài phát thanh hay không. Tôi trả lời, tôi sẵn ḷng dùng tên thật, Nguyễn Hữu Chí, có vậy, bạn bè, thân nhân mới biết tôi là ai và như vậy, họ mới tin vào những điều tôi nói.... (C̣n tiếp...)


 

[ Hữu Nguyên (SGT Úc Châu) ]-[ B́nh Luận ]-[ Trang Chính ]

Mục Lục