Mục Lục

 

Hồi kư: Tôi T́m Tự Do (Kỳ 15)

 Hữu Nguyên SàiGon-Times Úc Châu


 

LỜI NGỎ: Tôi là Nguyễn Hữu Chí, sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, từng có hơn một năm phải đội nón cối, đi dép râu, theo đội quân Việt Cộng xâm lăng Miền Nam. Trong những năm trước đây, khi cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Úc c̣n minh bạch, lằn ranh quốc cộng c̣n rơ ràng, tôi hoàn toàn tin tưởng và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu, thế lực của cộng sản. Nhưng gần đây, có những dấu hiệu rơ ràng chứng tỏ, những thế lực ch́m nổi của cộng sản tại Úc đang t́m cách xóa bỏ lằn ranh quốc cộng, đồng thời thực hiện âm mưu làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của người Việt hải ngoại. Trong hoàn cảnh đấu tranh ngày càng khó khăn đó, tôi thấy ḿnh chỉ có thể đi tiếp con đường ḿnh đă chọn khi được quư độc giả hiểu và tin tưởng. V́ vậy, tôi viết hồi kư này, kể lại một cách trung thực cuộc đời đầy đau khổ, uất ức và ân hận của tôi khi sống trong chế độ cộng sản, cũng như những nguy hiểm, may mắn khi tôi t́m tự do.... Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn trên nhiều phương diện, lại phải vừa duy tŕ tờ báo, vừa tham gia các sinh hoạt cộng đồng, vừa t́m cách "mưu sinh, thoát hiểm" giữa hàng chục "lằn tên đường đạn", nên hồi kư này có rất nhiều thiếu sót. Kính mong quư độc giả thông cảm bỏ qua, hoặc đóng góp nếu có thể.

 


 

(Tiếp theo...)

  

Kể từ khi viết hồi kư, tôi có được cái may mắn, nhận được những cú điện thoại, những email khuyến khích của quư độc giả. Trong số đó, có những vị trước kia ở cùng một tổng, một làng với tôi ở ngoài Bắc. Có vị cùng tắm chung trên ḍng sông Châu, và cũng có vị từng đặt chân lên núi Đọi, núi Đệp quê hương của Mẹ tôi... Rồi Chủ nhật vừa qua, có một vị gọi điện thoại hỏi tôi về những kỷ niệm của tuổi học tṛ ở Miền Bắc dưới chế độ cộng sản. Trước đây hai tháng, cũng có một vị thân hữu trong cộng đồng, hỏi tôi câu hỏi tương tự. V́ vậy, hôm nay, tôi xin kể lại những kỷ niệm tuổi học tṛ của tôi.

 

Tôi là một người rất hiếu học, nhưng v́ hoàn cảnh gia đ́nh, nên chỉ được học hết lớp 8 th́ tôi phải nghỉ học để kiếm sống. Nhưng trong thời gian 8 năm trên ghế nhà trường, tôi cũng có nhiều kỷ niệm vui buồn, đến bây giờ vẫn c̣n nhớ như in trong óc.

 

Trong những năm tiểu học, tôi là một đứa trẻ rất tinh nghịch, nên tôi bị thầy giáo đánh đ̣n như cơm bữa. Lớp tôi học nằm cạnh một vườn khoai ḿ, mà ngoài Bắc gọi là cây sắn. Dùng cây sắn làm roi th́ hay bị gẫy, nên mỗi khi tôi nghịch ngợm, đáng bị đánh đ̣n, là thầy giáo sai học tṛ ra vườn sắn bẻ cả chục cây đem vào lớp. Như đă kể trong những số báo trước, tôi là người đa cảm, rất dễ xúc động, nhưng lại rất ĺ đ̣n, v́ tôi mê được làm anh hùng ngay từ khi c̣n bé. Mà muốn làm anh hùng, th́ điều đầu tiên phải biết gồng ḿnh chịu đ̣n. V́ tâm tâm niệm niệm như thế, nên mỗi lần bị thầy giáo đánh đ̣n, tôi đều nghiến răng chịu đau, nhất định không kêu la xin xỏ.

 

Ngồi học trong lớp, tôi ít khi để ư đến lời thầy giảng, mà chỉ hay coi trộm truyện. V́ hay đọc truyện, nên tôi đọc bài rất lưu loát. Mỗi khi có phái đoàn giáo viên của huyện, của tỉnh về thăm trường (hay c̣n gọi là thăm quan), là cô giáo, thầy giáo lôi tôi lên đọc bài trước lớp. Tôi coi đó là một vinh dự và thích thú lắm.

 

Khi tôi bắt đầu lên học cấp 2, tức là từ lớp 5 đến lớp 7, th́ máy bay Mỹ bắt đầu oanh tạc Miền Bắc. Đó là thời gian vất vả nhất của tuổi học tṛ. V́ trường cấp 2 ở ngay phố huyện, nên lệnh của trên pḥng giáo dục huyện bắt trường tôi phải đi "sơ tán" (giống như di tản), nghĩa là chúng tôi phải bỏ trường lớp, đi xuống vùng thôn quê cách đó khoảng 4, 5 cây số, dựng lên trường lớp bằng mái tranh, vách đất. Cực khổ nhất là phải đào giao thông hào chi chít từ trong lớp học ra đến bên ngoài.

 

Có thể nói cả Miền Bắc từ năm 1965 trở đi, đâu đâu cũng thấy giao thông hào và hầm hố tránh bom. Giao thông hào đào từ trong mỗi lớp học, tỏa mạng ra các hầm trú ẩn. Chung quanh lớp cũng phải đắp các ụ đất cao một thước tám, ngang khoảng thước hai. Những ụ đất này chạy quanh lớp học, chỉ chừa có vài lối ra vô là cửa ngơ của các giao thông hào. Giao thông hào th́ sâu khoảng thước rưỡi, ngang khoảng thước hai. Ngoài ra mỗi lớp học phải làm 5 hầm tránh bom, mỗi hầm chứa khoảng 10 đến 12 học sinh. Để làm những hầm tránh bom, phụ huynh và học sinh phải làm chung, v́ rất tốn kém và vất vả. Đầu tiên là đào một hố sâu khoảng một thước, chiều ngang 3 thước, chiều dài 5 thước. Sau đó đóng cọc tre hai bên san sát dính liền, mỗi cọc cao khoảng 2 thước rưỡi, một đầu vót nhọn cắm sâu vào đất khoảng nửa thước, đầu kia có ngàm, để hai chân cọc đóng xoăi hai bên, c̣n hai đầu cọc th́ khớp lại với nhau giống như mái nhà. Tiếp theo là buộc lạt tre, đặt phên tre, rồi đổ đất bùn trộn với rơm, dầy từ một thước đến thước rưỡi. Cuối cùng là phủ những lớp cỏ ngụy trang lên trên.

 

Dọc theo các con đường làng, các đường ṃn tới lớp học, rồi chung quanh lớp, đều có các hố cá nhân. Những hố này đều sâu từ thước rưỡi đến hai thước, đường kính thước rưỡi. Ở thành phố, thị xă, thủ đô Hà Nội, mỗi hố cá nhân thường được đổ bằng xin măng, có nắp đậy. C̣n ở thôn quê th́ hố thường bằng đất, không có nắp.

 

Ngoài hệ thống hầm hố ra, mỗi học sinh thời đó đều phải có mũ rộng vành bện bằng rơm. Những cọng rơm được ngâm nước cho mềm, rồi kết lại với nhau giống như kết tóc đuôi sam. Sau đó, từng chuỗi rơm to bằng ngón tay cái được quấn và khâu thành h́nh chiếc mũ. Các thày cô giáo vẫn thường dậy chúng tôi, đội mũ rơm th́ giúp cho đầu của ḿnh khỏi bị bom bi, hay miểng bom. Như vậy mũ rơm để bảo vệ đầu. C̣n bảo vệ thân thể th́ có một chiếc khiên bằng rơm (lâu ngày, tôi quên mất tên gọi của nó nên tạm gọi là khiên rơm). Chiếc khiên này cũng được bện bằng rơm, nhưng thay v́ khổ nhỏ như ngón tay cái, th́ rơm bện cho chiếc khiên phải to và tṛn cỡ cổ chân. Sau khi bện xong, th́ quấn từng ṿng thật chặt thành một chiếc khiên rơm h́nh bầu dục, rồi thêm hai chiếc dây, hay hai quai bằg rơm ở hai bên để đeo lên vai. Khi đeo xong, chúng tôi sẽ có được một chiếc khiên che kín phía lưng. Nh́n chung, vào thời đó, những chiếc mũ rơm, khiên rơm là như vậy, nhưng mỗi địa phương, h́nh dáng, cách thức của mũ rơm, khiên rơm có khác. Thậm chí có nơi, không có rơm, th́ người dân dùng bẹ ngô, hay cây cỏ...

 

Học sinh chúng tôi thời đó cũng được dậy rằng, nếu nghe tiếng kẻng hay c̣i báo động,  kịp nhảy xuống hố cá nhân tránh bom, th́ nhớ  đậy nắp hầm bằng chiếc khiên rơm. Như vậy, chỉ trừ khi trái bom rơi trúng miệng hầm, c̣n không th́ mạng sống của chúng sẽ rất an toàn. (!!!) Tôi c̣n nhớ ngày đó, có mấy ông cán bộ huyện đội hay xuống trường học của chúng tôi, bắt cả trường phải thực tập màn báo động máy bay Mỹ oanh tạc. Có hôm mùa đông lạnh lẽo, trời mưa tầm tă cả tuần lễ, giao thông hào, hầm hố đều ngập nước, nhưng cán bộ huyện đội tới ra lệnh báo động, chúng tôi vẫn phải chạy nháo nhào dưới mưa để chui vào những hầm hố đầy nước... khiến đứa nào cũng run cầm cập, quần áo ướt như chuột. Ngoài chuyện nước, bùn, đôi khi c̣n có cả chuột, cóc nhái, rắn rết,... sống cũng có mà chết cũng có, trong các hầm hố, giao thông hào. Những thứ này quả là cả một ác mộng đối với học tṛ, nhất là với nữ sinh.

 

Về công dụng của chiếc mũ rơm, khiên rơm, tôi nhớ có lần, cán bộ huyện đội lên lớp giải thích, mỗi miểng bom hay viên bom bi bắn ra trong không khí, chúng sẽ xoay tít theo chiều kim đồng hồ. Một khi gặp rơm, chúng sẽ cuốn sợi rơm theo chiều quay, nên mỗi sợi rơm sẽ có công dụng như chiếc phanh (thắng), làm giảm tốc độ và rồi chặn đứng viên bom bi hay miểng bom lại. Nhờ vậy, chúng tôi sẽ thoát chết. (!!!)

 

Vào lúc đó, chúng tôi chẳng biết, những chiếc nón rơm, khiên rơm đó có hữu hiệu trong việc tránh bom bi hay miểng bom như lời cán bộ huyện đội nói không, nhưng chúng tôi ai ai đi học cũng không thể nào quên được hai thứ "bùa hộ mạng" cồng kềnh và nặng nề đó.

 

Để minh họa phần nào h́nh ảnh người học sinh Miền Bắc trong những chiếc khiên rơm, mũ rơm, tôi xin gửi tới các bạn tấm h́nh. Tôi cũng xin thưa, khi cho bà xă coi tấm h́nh này, tôi đă giải thích đứt lưỡi, bằng tất cả ngôn ngữ tôi có, cộng với sự thật thà đến ngây ngô, ngờ nghệch của tôi, nhưng vợ tôi vẫn nhất định không tin, những học sinh trong h́nh mặc những tấm khiên rơm đó là để chống bom bi. Vợ tôi bảo, các em học sinh đeo chiếc khiên rơm đó là để cho khỏi lạnh, chứ không phải để chống bom bi. V́ vậy, nếu quư độc giả nh́n h́nh, mà không tin những ǵ tôi viết trong bài này, điều đó không làm tôi ngạc nhiên. Chỉ mong, nếu quư vị có cơ hội, xin hăy hỏi chuyện những người Việt từng sống ở Miền Bắc trong giai đoạn 1964-1972, th́ có thể phần nào tin những điều tôi đă viết... Như vậy, quư vị sẽ thấy thương xót cho tuổi trẻ Việt Nam ở Miền Bắc trong những năm tháng cách đây ngót 40 năm. Và cũng xin quư vị hăy hiểu rằng, tất cả những khổ ải đó chỉ bằng phần ngàn, phần vạn, so với những khổ ải không có trong h́nh, do cộng sản gây ra cho quê hương, dân tộc VN, trong suốt 60 năm qua... (C̣n tiếp...)


 

[ Hữu Nguyên (SGT Úc Châu) ]-[ B́nh Luận ]-[ Trang Chính ]

Mục Lục